Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Ở những bài viết trước, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chia sẻ các hình thức đấu thầu. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác và khách hàng phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013.

Theo Luật đấu thầu 2013, từ Điều 28 đến Điều 31 thì có 4 phương thức đấu thầu:

– Đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Xuất phát từ quy mô, tính chất phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của các gói thầu sử dụng vốn nhà nước mà Luật đấu thầu đã quy định cụ thể 4 phương thức đấu thầu khác nhau. Mục đích chính là để đáp ứng tốt nhất khả năng thực hiện và bảo đảm chất lượng của gói thầu. Đồng nghĩa, các gói thầu có sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ về phương thức đấu thầu theo Luật đấu thầu.

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán ) trong cùng một túi hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần (mở cùng lúc cả đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ).

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật theo yêu cầu sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất tài chính để đánh giá. Nếu nhà thầu nào đạt cả hai yêu cầu về kỹ thuật và tài chính thì sẽ trở thành người trúng thầu. Tuy nhiên, đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn nhà nước nhỏ, đơn giản và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28, 29 Luật đấu thầu 2013.

Các phương thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu từ Điều 28 đến Điều 31 được quy định khắt khe theo độ phức tạp và quy mô sử dụng vốn của dự án. Nếu như phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với các dự án đơn giản, quy mô vốn nhỏ thì phương thức đấu thầu hai giai đoạn lại được áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn lớn và có tính phức tạp cao hơn. Phương thức này chỉ được quy định trong Luật đấu thầu bởi lẽ các phương thức đấu thầu được quy định đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, mang tính chất công thì việc bảo đảm tiến độ công trình, chất lượng của dự án là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của cả một đất nước. Vì vậy cần phải có một phương thức đấu thầu chặt chẽ để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, với giá cả hợp lý nhất. 

Theo quy định tại Điều 30 Luật đấu thầu thì phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Xuất phát từ thực tế có rất nhiều nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của gói thầu nhưng do giá dự thầu thấp nên đã trúng thầu. Đến khi thực hiện dự án thì không bảo đảm về mặt chất lượng cũng như tiến độ thi công của gói thầu.

Bài học thực tế từ các nhà thầu Trung Quốc thời gian qua là một ví dụ điển hình. Bằng “chiêu trò” đưa ra giá thấp nhất để được trúng thầu nhưng khi trúng thầu thì họ lại chây lì, không chịu thực hiện dự án với lý do giá thấp, không đủ để thực hiện, buộc bên mời thầu (bên mua) phải tăng giá gói thầu lên thì mới chịu thực hiện. Kết quả giá của gói thầu đã bị đẩy lên cao gấp nhiều so với thực tế. Chính vì vậy, quy định này một phần loại trừ những nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trước khi xem xét tới giá của gói thầu. Bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện các công trình sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Như vậy, đối với các dự án đòi hỏi công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù thì sẽ áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ. Trong phương thức đấu thầu này thì các yêu cầu về kỹ thuật là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc trúng thầu của các bên dự thầu bởi cái bên mời thầu quan tâm nhất chính là kỹ thuật công nghệ chứ không phải giá của gói thầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ có một hoặc một số nhà thầu mới đủ điều kiện thực hiện được gói thầu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như vậy thì rất dễ dẫn đến nhà thầu đòi giá gói thầu cao hơn nhiều lần so với giá thực tế. Đây cũng chính là hạn chế của phương thức đấu thầu này bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại. 

Trong suốt quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi đã học hỏi và trau dồi được những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và hiểu rõ hơn về phương thức đấu thầu. Hy vọng những chia sẻ của luật sư tư vấn sẽ mang đến thông tin hữu ích cho quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn đặt tên cho doanh nghiệp theo quy định pháp luật

Kính chào Luật sư tư vấn công ty Luật Giải Pháp Việt. Hiện nay, tôi định tiến hành thành lập công ty. Xin luật sư tư vấn giúp tôi cách đặt tên cho doanh nghiệp để phù hợp với quy định của pháp luật?

Xin chào bạn, đối với câu hỏi của bạn về việc đặt tên cho doanh nghiệp, Luật sư tư vấn của Chúng tôi chia sẻ cụ thể như sau:

Luật sư tư vấn đặt tên cho doanh nghiệp

Khi đăng ký thành lập công ty, chủ doanh nghiệp nêu tên doanh nghiệp trong đơn đề nghị gửi cơ quan đăng ký kinh doanh. Tên của doanh nghiệp phải bao gồm hai thành phần: Tiền tố thể hiện loại hình doanh nghiệp (ví dụ: “Công ty Trách nhiệm hữu hạn” hoặc viết tắt là “Công ty TNHH ”) và hậu tố là tên riêng của doanh nghiệp (Điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Đặt tên cho doanh nghiệp không nhất thiết phải có mối quan hệ với tên của chủ doanh nghiệp, thành viên hoặc cổ đông sáng lập. Tên riêng của doanh nghiệp chỉ được sử dụng ngành nghề kinh doanh (Ví dụ: “Công ty TNHH MTV Thương mại – Dịch vụ A).

Luật doanh nghiệp năm 2014 cho phép việc đặt tên cho doanh nghiệp sử dụng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt và một số chữ cái có trong bảng chữ cái tiếng Anh mà không có trong bảng chữ cái tiếng Việt như các chữ cái “F”, “J”, “Z” và “W” (Điểm b khoản 1 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Chữ số (Ví dụ “1”) và ký hiệu (ví dụ “&” và “-“) cũng có thể dùng để đặt tên cho doanh nghiệp.

Tên doanh nghiệp phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp, được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành (Khoản 2 Điều 38 Luật doanh nghiệp năm 2014).

Luật sư tư vấn cũng chia sẻ thêm cho bạn về một số hạn chế trong việc đặt tên cho doanh nghiệp.Thực tế, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hạn chế cơ bản áp dụng đối với doanh nghiệp, do đó cơ quan đăng ký kinh doanh có thể từ chối việc đăng ký tên doanh nghiệp Việt Nam khi vi phạm các hạn chế này:

Thứ nhất, tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã được đăng ký trên phạm vi toàn quốc (Khoản 1 Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Yêu cầu về tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác không chỉ áp dụng với tên tiếng Việt mà còn áp dụng với cả tên tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, yêu cầu này chỉ áp dụng đối với tên của doanh nghiệp thành lập ở Việt Nam. Do vậy, doanh nghiệp Việt Nam, về lý thuyết, có thể đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với doanh nghiệp nước ngoài, trừ trường hợp doanh nghiệp nước ngoài thành lập công ty con tại Việt Nam.

Tên trùng là trường hợp tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được viết hoàn toàn giống với tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký (Khoản 1 Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Tên của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được coi là nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký khi:

– Tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được đọc giống như tên doanh nghiệp đã đăng ký;

Ví dụ: Công ty TNHH Quí Phạm và Công ty TNHH Quý Phạm.

– Tên viết tắt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp đã đăng ký;

Ví dụ: Công ty TNHH Minh Trí thành lập vào năm 2017, có tên viết tắt là MT. Thời điểm hiện tại, doanh nghiệp dự định đặt tên Công ty TNHH Mạnh Tuấn, có tên viết tắt là MT.

– Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký;

Ví dụ: Công ty TNHH Bá Minh có tên nước ngoài tương ứng là BA MINH COMPANY LIMITED thành lập vào năm 2017. Tại thời điểm hiện tại, doanh nghiệp dự định đặt Công ty TNHH Ba Minh, có tên nước ngoài tương ứng là BA MINH COMPANY LIMITE. Việc đăng ký tên nước ngoài của Công ty Ba Minh là không được vì tên tiếng nước ngoài đã trị trùng. Trường hợp này, doanh nghiệp phải đặt lại tên tiếng Việt để có tên tiếng nước ngoài không bị trùng.

– Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một số tự nhiên, số thứ tự hoặc các chữ cái trong bảng chữ tiếng Việt và các chữ cái F, J, Z, W ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó;

Ví dụ: Công ty TNHH Tigon; Công ty TNHH Tigon 01. Hai tên công ty này gây nhầm lẫn cho nhau.

– Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi ký hiệu “&”, “.”, “+”, “-“, “_”;

Ví dụ: Công ty TNHH TM DV Kim Song Phát hoặc Công ty TNHH TM&DV Kim Song Phát.

– Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước hoặc “mới” ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký;

Ví dụ: Công ty TNHH Thương mại Thế giới di động và Công ty TNHH Thương mại Tân Thế giới di động.

– Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung” , “miền Tây”, “miền Đông” hoặc từ có ý nghĩa tương tự.

Ví dụ: Công ty TNHH Minh Trí và Công ty TNHH Minh Trí Miền Nam.

Thứ hai, tên doanh nghiệp không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc tổ chức chính trị hoặc xã hội trừ trường hợp có sự đồng ý của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó (Khoản 2 Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014).

Thứ ba, tên doanh nghiệp không được sử dụng từ ngữ hoặc ký hiệu “vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc” (Khoản 3 Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Không có hướng dẫn cụ thể hơn về thế nào là “vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Do vậy, cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền quyết định tương đối rộng trong việc đồng ý hay từ chối tên riêng của doanh nghiệp.

Ngoài ba hạn chế trên, mặc dù không được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, nhưng nhìn chung đặt tên cho doanh nghiệp cũng không được vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức hoặc cá nhân khác. Trong trường hợp tên thương mại, nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý của một tổ chức hoặc cá nhân đã được bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ thì doanh nghiệp không được đặt tên hoặc phải đổi tên nếu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trên đây là một số nội dung luật sư tư vấn về việc đặt tên cho doanh nghiệp. Hy vọng những chia sẻ của chúng tôi sẽ mang đến thông tin hữu ích cho bạn. 

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Theo luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, nhìn một cách tổng quát, Luật đấu thầu năm 2013 quy định các hình thức đấu thầu nhiều hơn các Luật khác. Nguyên nhân chính là do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu. Luật đấu thầu 2013 quy định các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp nhu cầu thực tế hiện nay.

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu thông qua việc đấu thầu rộng rãi và hạn chế. Ngoài hai hình thức trên, Luật đấu thầu còn quy định thêm các hình thức đấu thầu khác. Vậy các hình thức đấu thầu đó là gì? Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn sẽ cung cấp thông tin đến quý bạn đọc về các hình thức đấu thầu còn lại theo Luật đấu thầu 2013.

Các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013

Chỉ định thầu; Chào hàng cạnh tranh; Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng là các hình thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu mà không được quy định trong Luật thương mại 2005. Mục đích là để đáp ứng các nhu cầu thực tế về đấu thầu đối với các gói thầu phức tạp, mang tính cấp thiết và nhân đạo…Trong đó chỉ định thầu là một hình thức đấu thầu đặc biệt. 

Theo quan điểm của luật sư tư vấn, quy định tại Khoản 4 Điều 22 Luật đấu thầu thì chỉ định thầu đối với nhà đầu tư được áp dụng trong các trường hợp sau:

– Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện;

– Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn;

– Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, bằng hình thức chỉ định thầu, bên mời thầu không phải tổ chức đấu thầu, tiết kiệm được chi phí tổ chức và thời gian. Qua đó, bên mời thầu đẩy nhanh được tiến độ gói thầu, bảo đảm được bí mật công nghệ và đáp ứng tính cấp bách của dự án đầu tư cần triển khai.

Tuy nhiên, các gói thầu được áp dụng chỉ định thầu phải thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật đấu thầu 2013. Việc thực hiện chỉ định thầu đối với gói thầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 22 của Luật này. Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Theo đó các gói thầu này phải nằm trong hạn mức do Chính phủ quy định như: “Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công. Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên” (Điều 54 NĐ 63/2014/CP ). 

Vậy thì, các hình thức đấu thầu còn lại như: Chào hàng cạnh tranh, Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng trong Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Về hình thức đấu thầu chào hàng cạnh tranh: Đây là hình thức đấu thầu áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật đấu thầu và Điều 57 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh chỉ đáp ứng đối với các gói thầu có giá trị trong hạn mức mà pháp luật quy định và thuộc trong những trường hợp nhất định được xác định như sau:

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình thông thường thì được áp dụng đối với các gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng sẵn có trên thị trường (có đặc tính kỹ thuật đã được tiêu chuẩn hóa, và tương đương nhau về chất lượng); hoặc gói thầu xây lắp công trình đơn giản (đã có bản vẽ thi công được phê duyệt) mà giá trị gói thầu không quá 05 tỷ đồng.

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình rút gọn thì bên mời thầu chỉ có thể sử dụng hình thức này để áp dụng đối với: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản mà có giá trị không quá 500 triệu đồng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương chất lượng và gói thầu xây lắp đơn giản đã có thiết kế được phê duyệt có giá trị không quá 01 tỷ đồng; Gói thầu đối với mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng.

Về hình thức đấu thầu mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác. Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi có đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 2 Điều 24 Luật đấu thầu:

Nhà thầu được lựa chọn thông qua hình thức mua sắm trực tiếp phải là nhà thầu đã trúng thầu gói thầu tương tự trước đó thông qua đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế. Nhà thầu đã thực hiện việc ký kết hợp đồng để thực hiện gói thầu. So với gói thầu đã được ký kết trước đó thì gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp phải là gói thầu có tính chất, nội dung tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu tương tự đã đấu thầu rộng rãi trước đó.

Bên cạnh đó, đơn giá của phần việc trong gói thầu áp dụng thực hiện mua sắm trực tiếp không được phép vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc vào gói thầu đã được thực hiện ký kết trước đó. Thời gian áp dụng cho gói thầu mua sắm trực tiếp không được quá 12 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp.

Tuy nhiên, nhà thầu đã thực hiện hợp đồng trước đó, nếu không có khả năng thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì mua sắm trực tiếp sẽ được áp dụng đối với nhà thầu khác nếu nhà thầu đó đủ điều kiện theo quy định về năng lực nhà thầu, kinh nghiệm, cũng như kỹ thuật và giá nêu trong hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu.

Về hình thức đấu thầu tự thực hiện là hình thức đấu thầu được quy định tại Điều 25 của Luật đấu thầu. Trong đó, luật sư tư vấn cho bạn đọc có thể hiểu việc tự thực hiện là hình thức đấu thầu đặc biệt trong đó bên mời thầu, bên dự thầu và người trúng thầu đều là cùng một người. Quy định này có nghĩa là chủ dự án đầu tư tự thực hiện gói thầu của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định như vậy thì sẽ dẫn đến nhiều trường hợp, chủ đầu tư thực hiện dự án là người không có đủ khả năng đáp ứng về mặt kĩ thuật cũng như chuyên môn.

Theo luật sư tư vấn, nếu như họ tự thực hiện thì rất dễ dẫn đến không bảo đảm chất lượng của công trình, dự án, gây thất thoát tiền của nhà nước. Do vậy theo quy định tại Điều 61 Nghị định 63/2014/CP thì việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu và phải đáp ứng các điều kiện: Có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phù hợp với yêu cầu của gói thầu; Phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thực hiện về khả năng huy động nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện gói thầu; Đơn vị được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khối lượng công việc với tổng số tiền từ 10% giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giá gói thầu nhưng trên 50 tỷ đồng.

Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này thì người có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Ngoài ra, đối với các gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm thì có thể áp dụng hình thức tham gia thực hiện của cộng đồng

Trên đây là bài viết luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013. Hy vọng sẽ mang đến những thông tin hữu ích cho quý bạn đọc, đối tác, khách hàng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên: Hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Trong bài viết trước, luật sư tư vấn đã chia sẻ nội dung về phạm vi áp dụng đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013. Bên cạnh việc quy định khác nhau về phạm vi áp dụng đấu thầu thì Luật, Nghị định và Thông tư về đấu thầu còn quy định về hình thức đấu thầu.

Trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi có trao đổi với khách hàng để phân biệt rõ: Nếu như theo Điều 215 Luật thương mại 2005 thì có hai hình thức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đó là đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế thì trong Luật đấu thầu còn quy định thêm 06 hình thức đấu thầu khác bao gồm:

– Chỉ định thầu;

– Chào hàng cạnh tranh;

– Mua sắm trực tiếp;

– Tự thực hiện;

– Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt;

– Tham gia thực hiện của cộng đồng.

Những hình thức này được quy định từ Điều 22 đến Điều 27 Luật đấu thầu. Tuy nhiên, trong bài viết này, để phân tích một cách cô động, súc tích cho người đọc, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ trước 2 hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế.

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì Luật đấu thầu năm 2013 quy định nhiều hình thức đấu thầu hơn so với Luật thương mại 2005.Vậy nguyên nhân do đâu? Theo luật sư tư vấn, nguyên nhân do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu nên Luật đấu thầu đã phải quy định thêm nhiều các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đang mở cửa hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

Thế thì, hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế được Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Điều 20 Luật đấu thầu quy định: “Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự. Đấu thầu rộng rãi được áp dụng cho các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điều 21, 22, 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này”.

Như vậy, nếu phân tích Điều 20 Luật đấu thầu thì chúng ta sẽ hiểu rằng: Luật đấu thầu thừa nhận đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không giới hạn số lượng nhà thầu tham gia, chỉ có “một người mua và nhiều người bán”. Với hình thức đấu thầu này thì bên mời thầu (người mua) sẽ dễ dàng lựa chọn được nhà thầu tốt nhất với giá cả hợp lý nhất trong phiên đấu thầu có nhiều nhà thầu tham dự.

Tuy nhiên, theo luật sư tư vấn thì hình thức này cũng đem lại một số khó khăn cho bên mời thầu như: phải quản lý hồ sơ với số lượng lớn, chi phí cho hoạt động đấu thầu lớn, thời gian để hoàn thành công tác tổ chức đấu thầu dài và có thể xảy ra trường hợp nhà thầu liên kết để đẩy giá trúng thầu.

Để các dự án kinh tế sử dụng vốn nhà nước đạt hiệu quả cao, tiết kiệm thì Luật đấu thầu chỉ cho phép các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này mà không thuộc trường hợp quy định tại các điều từ Điều 21 đến Điều 27 của luật này mới được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi (chịu sự điều chỉnh về ý chí của nhà nước).

Bên cạnh đó, đối với các gói thầu lớn, đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật cao hoặc mang tính đặc thù, chuyên ngành thì việc lựa chọn nhà thầu là rất quan trọng.Thông thường các gói thầu liên quan đến sử dụng vốn nhà nước đều là các gói thầu lớn với mục đích xây dựng các công trình phục vụ cho cộng đồng nên yêu cầu bảo đảm kỹ thuật là tiêu chí quan trọng nhất. Bởi lẽ trên thực tế không phải nhà thầu nào cũng đáp ứng được các yêu cầu mà bên mời thầu đưa ra cho gói thầu. Do vậy, để bảo đảm được chất lượng của gói thầu mà không tốn thời gian, chi phí tổ chức thì Điều 21 Luật đấu tiên 2013 quy định: “Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu”. Với quy định này thì những dự án sử dụng vốn nhà nước đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ một số nhà thầu đáp ứng được yêu cầu về mặt kỹ thuật của gói thầu thì được áp dụng đấu thầu hạn chế.

Trên đây là một số thông tin cơ bản luật sư tư vấn cung cấp đến quý bạn đọc. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ nội dung liên quan đến hình thức đấu thầu khác theo Luật đấu thầu 2013./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thị trường của thế giới, do đó, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên là một hoạt động cần thiết nhằm đáp ứng, giải quyết được những vấn đề cấp bách đặt ra. Trong quá trình tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân, Chúng tôi từng tư vấn cho các hoạt động ở lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ… Trong đó, có nhiều trường hợp, các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng nguồn vốn Nhà nước đã yêu cầu luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên ở lĩnh vực hoạt động đấu thầu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ đến Quý bạn đọc, đối tác, khách hàng về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Theo Khoản 12 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 quy định: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Như vậy, trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên, chúng tôi cũng đã phân tích cho khách hàng hiểu rõ vấn đề, về thực chất thì quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước là một quá trình mua sắm, xây dựng công trình, quá trình chi tiêu, sử dụng vốn Nhà nước. Luật sư tư vấn cũng nêu rõ, về bản chất thì hoạt động đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu 2013 thực chất là hoạt động đấu thầu mang bản chất tư nhưng tính chất công. Đấu thầu trong Luật đấu thầu 2013 sử dụng nguồn vốn Nhà nước để lựa chọn một nhà thầu cho Nhà nước.

Xuất phát từ vai trò là công cụ pháp lý để quản lý nhà nước đối với việc đấu thầu các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước trong mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ tư vấn và xây lắp… Nên theo luật sư tư vấn thì pháp luật đã quy định tại Khoản 1 Điều 1 Luật đấu thầu 2013 các dự án phát triển sử dụng vốn Nhà nước của cơ quan Nhà nước, Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; Dự án đầu tư phát triển có sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; Các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, mua sắm của công, các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất; các dự án đầu tư trong lĩnh vực dầu khí (trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo quy định của pháp luật về dầu khí) thì phải sử dụng Luật đấu thầu để điều chỉnh. Bởi theo luật sư tư vấn một lý do cơ bản là vốn của các dự án này đều được lấy từ nguồn vốn của Nhà nước để chi cho các dự án đầu tư có tính chất công, có nghĩa là mang tính cộng đồng, phục vụ cho lợi ích cho một tập thể trong xã hội hoặc liên quan đến chi tiêu mua sắm của bộ máy Nhà nước.

Trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi cũng nhấn mạnh việc thực tế cho thấy từ việc sử dụng vốn của nhà nước nên không ít trường hợp các cá nhân, người được giao nhiệm vụ thực hiện các dự án này đã gian lận để tham ô chiếm đoạt tài sản của nhà nước, gây thâm hụt và lãng phí ngân sách của nhà nước. Do vậy để tránh thất thoát tài sản của nhà nước, pháp luật đã quy định mọi dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước đều phải thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu. Tức các chủ thể trong đấu thầu đều phải chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước mà không được tự do thỏa thuận.    

Theo Khoản 2 Điều 2 Luật đấu thầu quy định: “Tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này được chọn áp dụng quy định của Luật này. Trường hợp chọn áp dụng thì tổ chức, cá nhân phải tuân thủ các quy định có liên quan của Luật này, bảo đảm công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Nói như vậy, đồng nghĩa là, theo quy định này thì các tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc quy định này thì được chọn áp dụng quy định của Luật đấu thầu và phải tuân thủ theo quy định của Luật này. Như vậy có thể thấy phạm vi áp dụng của Luật đấu thầu rộng hơn các quy định về đấu thầu được quy định trong Luật khác.

Bên cạnh các phạm vi điều chỉnh thì các hoạt động đấu thầu liên quan đến sử dụng nguồn vốn Nhà nước, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên yêu cầu phải tuân thủ các trình tự nghiêm ngặt theo quy định vì Luật đấu thầu không có tính mềm dẻo, chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước. Ngoài ra, Luật đấu thầu còn điều chỉnh cả các hoạt động đấu thầu không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này mà chọn Luật này để điều chỉnh. Trừ trường hợp đối với việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam với nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đó. Trường hợp điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên của Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt với kinh nghiệm trong các lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ,… đã chia sẻ về phạm vi áp dụng hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước. Những bài viết tiếp theo, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác, khách hàng  về các hình thức, phương thức trong hoạt động đấu thầu. Hy vọng rằng những thông tin chúng tôi cung cấp trong lĩnh vực hoạt động đấu thầu sẽ mang đến những kiến thức hữu ích cho quý bạn đọc.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí

Luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt nhận được câu hỏi từ Báo Pháp Luật (PLO) với nội dung: Trang tin điện tử Pháp luật Ngày nay sao chép hoàn toàn nội dung của tin bài PLO, cuối bài chỉ ghi “Theo PLO” nhưng không có văn bản nào xin phép Pháp luật TP.HCM. Vậy Pháp luật Ngày nay vi phạm điều gì? Và phải xử phạt ra sao?

Luật sư tư vấn sở hữu trí tuệ lĩnh vực báo chí (Hình ảnh: Nguồn Internet)

Theo như câu hỏi của PLO thì luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ như sau: Trang tin điện tử Pháp luật Ngày nay đã sao chép hoàn toàn nội dung của tin bài PLO, cuối bài chỉ ghi “Theo PLO” nhưng không có văn bản nào xin phép Pháp luật TP.HCM, Luật sư Giải Pháp Việt tư vấn câu hỏi trên cụ thể như sau:

Đầu tiên, chúng ta cần hiểu rõ bài viết trên trang PLO có thuộc đối tượng, loại hình tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả hay không?

+ Căn cứ điểm a, c, khoản 1, điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả”:

“a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác.”

“c) Tác phẩm báo chí;”

+ Căn cứ Điều 9 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, ngày 23/02/2018 quy định cụ thể về Tác phẩm báo chí: “Tác phẩm báo chí quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ là tác phẩm có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, bao gồm các thể loại: Phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác.”

+ Căn cứ theo Điều 15 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định: “Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả”:

“1.Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.

2.Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.

3.Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.”

+ Căn cứ các cơ sở pháp lý trên, chúng ta có thể hiểu các tác phẩm của tổ chức, cá nhân mang tính mới, tính sáng tạo mà không phải là văn bản quy phạm pháp luật, hành chính hay quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, nguyên lý, định luật, số liệu, khái niệm đều được quyền bảo hộ theo Luật sở hưu trí tuệ năm 2005. Như vậy, bài viết được đăng trên PLO thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

Thứ hai, Căn cứ theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có quy định về Hành vi xâm phạm quyền tác giả:

” 1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

2. Mạo danh tác giả.

3. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

4. Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

6. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này…”

Như vậy, Trang tin điện tử Pháp luật Ngày nay đã có hành vi xâm phạm quyền tác giả của trang PLO.

 Thứ ba, pháp luật cũng đã quy định về chế tài xử phạt hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm cụ thể tại khoản 1, Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan:“1. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả”.

Đồng thời, căn cứ khoản 2, Điều 18 Nghị định này cũng quy định Biện pháp khắc phục hậu quả:“Buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này”.

Trên đây là những chia sẻ của Luật sư tư vấn Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt. Hy vọng những tư vấn của Chúng tôi sẽ mang đến những thông tin hữu ích cho PLO.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt./.

Bài viết liên quan: 

Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ

Luật sư tư vấn hạn chế tranh chấp phát sinh trong giao dịch vay thế chấp tài sản

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

 

Ký sự quê hương: Đầu tư vào Bắc Ninh – Tại sao không?

Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km, cách cảng biển Hải Phòng 110km, là đầu mối quan trọng giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, nằm trên hành lang kinh tế Việt – Trung và trong tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.

Với định hướng tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh sẽ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, hài hòa giữa khu đô thị và nông thôn, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; chuyển từ phát huy lợi thế so sánh tĩnh sang lợi thế so sánh động và phát huy lợi thế cạnh tranh trong điều kiện mới. Hình thành Trung tâm nghiên cứu triển khai (R&D), Trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao của vùng để đưa Bắc Ninh trở thành Trung tâm phát triển công nghiệp công nghệ cao phía Bắc, tạo bước chuyển biến mạnh về lĩnh vực du lịch, dịch vụ.

Sự năng động cùng nỗ lực không mệt mỏi…

Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư vào 15 trên tổng số 21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó vốn đầu tư tập trung nhiều vào lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo. Đứng thứ hai là lĩnh vực kinh doanh bất động. Hai lĩnh vực này đã chiếm hơn 95% tổng vốn đầu tư đăng ký trên toàn địa bàn tỉnh. Còn lại là một số lĩnh vực khác như xây dựng, dịch vụ lưu trú và ăn uống…

Nhờ đón bắt xu thế phát triển và hội nhập của đất nước để sớm định hình hướng đi và cùng với cách làm riêng, Bắc Ninh đã trở thành nơi hội tụ nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới, kết nối vùng đất Kinh Bắc vào chuỗi liên kết giá trị toàn cầu. Bắc Ninh sớm quy hoạch nhiều khu công nghiệp (KCN) đồng bộ; làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư… Sự năng động cùng nỗ lực không mệt mỏi đã đưa những cánh đồng quê Bắc Ninh trở thành các Khu công nghiệp tập trung hiện đại, thu hút đầu tư. Điều này đã dẫn đến thành công của tỉnh là ở mỗi KCN tập trung đều có một vài tập đoàn đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, có thương hiệu, từ đó đã kéo theo chuỗi các nhà đầu tư vệ tinh, tạo được KCN chuyên ngành và cụm công nghiệp phụ trợ. Tiêu biểu là KCN Quế Võ có Canon, KCN Yên Phong có Samsung…, đều là những tập đoàn lớn của thế giới.

Các dự án FDI – Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhanh chóng…

Bên cạnh những đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội, sự xuất hiện của các dự án FDI đã trở thành nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhanh chóng của hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội gồm giao thông, điện, nước, viễn thông, đặc biệt là hạ tầng các KCN, góp phần phát triển nhanh các khu đô thị, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại…

Điểm khác biệt đáng chú ý khi trên cả nước, số lượng các tập đoàn lớn đầu tư còn khiêm tốn thì các dự án FDI ở Bắc Ninh còn được đánh giá cao về chất lượng nhờ sự đầu tư của nhiều tập đoàn lớn mang thương hiệu toàn cầu như: Canon (Nhật Bản), Samsung (Hàn Quốc), Nokia (Phần Lan), Pepsico (Hoa Kỳ), ABB (Thụy Điển)… Đưa Bắc Ninh trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về mức độ hấp dẫn các dự án FDI.

Nhân chuyến đi công tác tại Bắc Ninh, chuyên viên pháp lý Giải Pháp Việt đã có trải nghiệm thú vị tại vùng đất Bắc Ninh. Với kinh nghiệm và sự hiểu biết về pháp luật cũng như môi trường kinh doanh, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chúng tôi hy vọng rằng, trong tương lai không xa, Bắc Ninh sẽ tiếp tục vươn mình hơn nữa để hội nhập và phát triển./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Ký sự quê hương: Hành trình trên miền đất đỏ Tây Nguyên

Ký sự quê hương: Long An, mảnh đất lành hoa nở

Ký sự quê hương: Tiền Giang – Ấm áp tình người miền sông nước

 

 

Luật sư tư vấn hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội

Hiện nay, rất nhiều người sử dụng mạng xã hội để dùng những thông tin nặc danh nhằm truyền tin, cung cấp những thông tin mang tính vu khống hoặc làm nhục, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín của người khác. Với thực trạng này, đã mang đến những hệ lụy khôn lường cho không ít người. Đối với vấn đề khá “nhức nhối” này, bài viết dưới đây, luật sư tư vấn những quy định pháp luật về xử lý hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội.    

Theo Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật Giải Pháp Việt thì hiện nay, pháp luật Việt Nam có quy định đối với những hành vi sử dụng các trang mạng xã hội để nhắn tin phá rối nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể, tại Khoản 3 Điều 16 của Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 cũng quy định về Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm các nội dung như: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời, tại Điều 9 Luật An ninh mạng quy định, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Luật sư Khưu Thanh Tâm tư vấn pháp luật

Như vậy, xét về khía cạnh xử lý vi phạm hành chính thì pháp luật quy định như thế nào? Theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin thì “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”.

Bên cạnh đó, nếu có đủ căn cứ xác định hành vi quấy rối trên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người bị xúc phạm thì có thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 về Tội làm nhục người khác theo đó có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ hoặc có thể bị phạt tù đến 05 năm” . Ngoài ra, luật sư tư vấn theo Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 cũng quy định về Tội vu khống theo đó nếu vi phạm, tùy theo tính chất, mức độ thì có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc có thể bị phạt tù đến 07 năm.

Chúng ta không phủ nhận, hiện nay, mạng xã hội đã mang đến nhiều tiện ích cho toàn xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng rất nhiều điều phải nói như đang có quá nhiều thông tin không phù hợp và nhiều người lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi đe dọa, vu khống, làm nhục người khác. Vậy nếu trong trường hợp nghệ sĩ, người nổi tiếng hoặc tổ chức, cá nhân bị vu khống, làm nhục trên mạng xã hội, chúng ta cần phải làm gì?

Thực tế, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt cũng đã tư vấn cho nhiều cá nhân rơi vào trường hợp này. Khi gặp phải tình huống trên, cách tốt nhất, chúng ta nên bình tĩnh, tỉnh táo, tránh để dư luận chi phối đến bản thân của chúng ta. Chúng ta cần phân biệt rõ các hành vi đó là gì.

Theo nhận định của luật sư tư vấn, nếu là vu khống thì đó là hành vi Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Còn Làm nhục là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi xúc phạm rất đa dạng phổ biến, nó là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm thực hiện. Khi hành vi này được thực hiện sẽ khiến người bị xúc phạm cảm thấy nhục nhã, tổn thương nặng nề về danh dự, nhân phẩm. Để đánh giá hậu quả người bị xúc phạm có cảm thấy nhục nhã hay không cần dựa trên các yếu tố loại hành vi, mức độ xúc phạm của hành vi; ý thức về việc bị xúc phạm của nạn nhân với hành vi; Dư luận xã hội về hành vi, tác động tâm lý của người bị xúc phạm.

Nếu việc chửi bới, đe dọa người khác làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ rằng, việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì đối tượng thực hiện hành vi được xem là tội phạm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm theo quy định tại Điều 133 bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội đe dọa giết người. Lời đe dọa đó hướng tới một đối tượng nhất định, kể cả trong phần tin nhắn, phần bình luận, hay viết lên trang facebook, zalo của người khác, làm cho họ tin và lo sợ hành vi đó có thể diễn ra thật thì những người này vẫn có thể bị xử lý về hành vi đe dọa giết người.

Trong trường hợp cần thiết, người bị xúc phạm có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại danh dự nhân phẩm do hành vi vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm gây ra cho mình theo điều 604 BLDS 2015 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Ngoài những quy định của pháp luật về xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự mà luật sư tư vấn ở trên, nếu trường hợp ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc thì người bị xúc phạm có quyền trình báo sự việc đến cơ quan công an để tiến hành điều tra, đồng thời cung cấp những chứng cứ đã lưu lại được. Cơ quan công an có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh thông tin chủ tài khoản mạng xã hội, triệu tập những người đó lên làm việc và sẽ có biện pháp xử lý phù hợp nhằm răn đe, cũng như ngăn chặn những hành vi trên.

Chính những lời nói tưởng chừng như chỉ để phán xét người khác lại vô tình giết chết đi những tài năng trẻ, những con người trẻ. Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại những phát ngôn trên mạng xã hội để làm hồi chuông cảnh tỉnh cho sự vô tình đấy. Trên đây là phần tư vấn hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội của Luật sư Khưu Thanh Tâm. Hy vọng những chia sẻ trên mang đến thông tin hữu ích cho quý bạn đọc./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Công ty Luật Giải Pháp Việt – Trao tặng ghế đá nghĩa tình

Trao tặng ghế tại UBND Phường Tân Đông Hiệp

Những ngày đầu tháng 10, công ty luật Giải Pháp Việt đã thực hiện chuỗi hoạt động cộng đồng thiết thực. Chúng tôi đã đến và trao tặng những chiếc ghế đá cho UBND các Phường tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. 

Trao tặng ghế tại Phường Dĩ An

Từ những nơi công cộng như nhà chờ đón học sinh đến Ủy ban nhân dân các Phường trên địa bàn thị xã Dĩ An đều có “dấu ấn” của công ty Luật Giải Pháp Việt. Hoạt động trao tặng ghế đá cho UBND các phường tại thị xã Dĩ An không chỉ mang ý nghĩa luật sư đồng hành vì cộng đồng mà chúng tôi còn muốn gắn kết và góp sức hỗ trợ cho địa phương.

Bên cạnh đó, ngoài việc góp phần làm cho khuôn viên của trụ sở của Ủy ban nhân dân các Phường ngày càng khang trang, gần gũi và thân thiện hơn với người dân đến liên hệ công tác, thông qua hoạt động này, công ty Luật Giải Pháp Việt còn gửi đến thông điệp: “Hỗ trợ tư vấn pháp lý miễn phí cho các đối tượng chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn” đến người dân trên địa bàn thị xã Dĩ An, Bình Dương.

Giải Pháp Việt cùng đại diện Phường An Bình

Với đội ngũ các cố vấn, Luật sư, chuyên viên thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, trong thời gian sắp tới, công ty luật Giải Pháp Việt hy vọng sẽ được tiếp tục đồng hành và hỗ trợ các hoạt động trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

              Số 12 đường E, Khu trung tâm hành chính thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn hạn chế tranh chấp phát sinh trong giao dịch vay thế chấp tài sản

 

Thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế, thế chấp tài sản được áp dụng nhiều trong đời sống. Để hạn chế những rủi ro, tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch vay thế chấp tài sản thì chúng ta cần lưu ý những vấn đề sau:

Một là, tài sản thế chấp được quy định là động sản hoặc bất động sản. Ngoài ra, phải đáp ứng được các điều kiện như:

+ Tài sản phải thuộc sở hữu của bên thế chấp;

+ Không có tranh chấp, bảo đảm thi hành án hoặc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác;

+ Tài sản thế chấp có vật phụ đi kèm thì vật phụ đó cũng là tài sản thế chấp.

Hai là, về hợp đồng thế chấp cần lưu ý: 

+ Giao dịch vay thế chấp tài sản là một giao dịch bảo đảm. Giao dịch phải được lập thành văn bản. Phải có sự thỏa thuận đồng ý giữa hai bên và được công chứng, chứng thực để bảo đảm.

+ Tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì hợp đồng bắt buộc phải được đăng kí giao dịch bảo đảm theo đúng pháp luật.

+ Hợp đồng cần quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của hai bên theo đúng quy định của Bộ luật dân sự.

Cuối cùng, tài sản thế chấp có đăng ký quyền sở hữu. Người nhận thế chấp không thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản này và bên thế chấp được quyền giữ tài sản. Do đó, khi hợp đồng thế chấp được kí kết, hai bên cần thỏa thuận giao cho một bên thứ ba có uy tín giữ tài sản thế chấp. Tránh trường hợp bên thế chấp tiếp tục dùng tài sản này để thực hiện một giao dịch bảo đảm khác với người khác. Như vậy sẽ có thể bảo đảm quyền lợi cho bên nhận thế chấp hơn.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết tham khảo:

Luật sư tư vấn những rủi ro có thể phát sinh khi vay thế chấp tài sản giữa cá nhân

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/