Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật?

Những ngày vừa qua, thông tin một nhóm gồm phụ huynh có con đang học tại Trường Dân lập quốc tế Việt Úc bỗng dưng nhận được văn bản thông báo trường không tiếp nhận con mình trong năm học 2020 – 2021 đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi. Nguyên nhân điều này bắt nguồn từ việc nhà trường và một số phụ huynh không đạt được sự đồng thuận trong vấn đề học phí của học kỳ bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Quyết định này đã dấy lên làn sóng phẫn nộ của nhiều phụ huynh có con theo học tại trường này do lo ngại ảnh hưởng tới việc học cũng như tâm lý của các em. Trả lời phỏng vấn cho chương trình Chuyện nóng 24h trên SCTV4, Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã có những chia sẻ về quan điểm cá nhân. (Luật sư tư vấn)

Luật sư tư vấn – Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật? Nguồn hình ảnh: PV Mạnh Tùng (Vnexpress.net)

 

PV:  Thưa Luật sư, xin Luật sư cho biết, đối với vấn đề này hành xử của nhà trường đã đúng luật chưa? Vì sao?

Luật sư: Mâu thuẫn học phí giữa phụ huynh và nhà trường là mối quan hệ dân sự, việc ngưng tiếp nhận học sinh là một dạng đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo khoản 5 điều 402 Bộ Luật Dân sự 2015 đây là hợp đồng liên quan đến lợi ích của người thứ ba (tức là học sinh) nên nhà trường và phụ huynh phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền và lợi ích cho học sinh. 

Việc không tìm được tiếng nói chung giữa phụ huynh và nhà trường có nhiều cách để xử lý hơn là việc nhà trường ra thông báo ngưng tiếp nhận học sinh. Tôi cho rằng hành động này không tuân thủ các quy định của Luật giáo dục và Luật Bảo vệ trẻ em về các quyền được tôn trọng, quyền học tập của công dân, quyền bình đẳng về cơ hội giáo dục.

PV:  Ngoài góc độ thương mại, trường Việt Úc có phải tuân thủ Luật giáo dục hay không? Việc từ chối tiếp nhận học sinh đang theo học dù học sinh không vi phạm quy định trường có phải là hành vi phản giáo dục?

Luật sư: Việc đưa ra các quyết định của trường không chỉ thực hiện các quy định của doanh nghiệp mà còn cần phải tuân thủ theo quy định Luật Giáo dục, các Nghị định, Thông tư chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục. Tôi cho rằng hành động này đã không nghĩ đến quyền và lợi ích của các em học sinh, làm tổn thương sâu sắc đến tâm lý của học sinh.

PV: Theo Luật sư, trong trường hợp này cả phụ huynh và phía nhà trường cần làm gì để bảo vệ quyền lợi cho học sinh?

Luật sư: Trong trường hợp này, theo tôi việc đề nghị bên thứ 3 là Tòa án có thẩm quyền giải quyết là hướng mà cả hai bên nên hướng đến. Tuy nhiên, trong thời gian giải quyết tranh chấp và chưa có quyết định của Tòa án thì 2 bên nên tôn trọng và tuân thủ các thỏa thuận đã được ký kết trước đó. Vì mục đích cuối cùng chính là tìm được tiếng nói chung để thống nhất phương án giải quyết tốt nhất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho các em học sinh./.

Theo Luật sư tư vấn – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Quy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp tại Việt Nam

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp với những ưu điểm như tiết kiệm khá nhiều thời gian cho việc triển khai hoạt động kinh doanh, dễ dàng tiếp cận thị trường Việt Nam,… phương án đầu tư theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam đang được nhiều nhà đầu tư nước ngoài áp dụng khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Để nhà đầu tư có thể tiếp cận dễ dàng với hình thức đầu tư này, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ quy trình thực hiện cũng như những điểm lưu ý có liên quan đến hình thức đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam mà chúng tôi đã tích lũy được trong quá trình hỗ trợ cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp – QUy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam

 

Để có thể tránh những rủi ro có thể phát sinh trong tương lai khi tiến hành thủ tục mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp cũng như đảm bảo thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật, theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, nhà đầu tư cần chú ý và thực hiện những nội dung sau:

Đầu tiên, nhà đầu tư cần kiểm tra, xác định nội dung hoạt động kinh doanh (hay ngành nghề kinh doanh) của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước đầu tiên để xác định nhà đầu tư có được quyền mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hoặc nếu được quyền mua thì tỉ lệ được sở hữu vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu phần trăm,….

Vấn đề thứ hai là cần kiểm tra một cách cẩn thận tình hình hoạt động và tài liệu pháp lý của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước quan trọng nhất để nhà đầu tư xem xét và quyết định có mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hay không? Ở bước này, nhà đầu tư cần thực hiện các hoạt động như kiểm tra tài liệu pháp lý của doanh nghiệp, tiến hành kiểm toán đối với doanh nghiệp, thực hiện việc thẩm định giá để xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp… từ đó nhà đầu tư mới có thể xác định giá trị chuyển nhượng phù hợp.

Tiếp đến, nhà đầu tư cần làm là xác định quy trình thực hiện các thủ tục pháp lý để hoàn thành việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư và lên kế hoạch chi tiết thực hiện. Sau đó, nhà đầu tư cần tiến hành thực hiện các thủ tục cần thiết để hoàn tất việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, đồng thời tiến hành thay đổi các giấy phép khác của doanh nghiệp sau khi hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng (nếu có).

Theo đó, tùy vào trường hợp cụ thể đối với từng nhà đầu tư nước ngoài cần lựa chọn trình tự và triển khai các nội dung một cách linh hoạt, phù hợp theo các điều kiện tương ứng theo quy định pháp luật. Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu hỗ trợ tư vấn và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam, xin vui lòng đề xuất qua email contact@lawsolutions.com.vn.

Theo Chuyên viên pháp lý Nguyễn Văn Hiệp

Luật sư tư vấn quy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp với những ưu điểm như tiết kiệm khá nhiều thời gian cho việc triển khai hoạt động kinh doanh, dễ dàng tiếp cận thị trường Việt Nam,… phương án đầu tư theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam đang được nhiều nhà đầu tư nước ngoài áp dụng khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Để nhà đầu tư có thể tiếp cận dễ dàng với hình thức đầu tư này, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ quy trình thực hiện cũng như những điểm lưu ý có liên quan đến hình thức đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam mà chúng tôi đã tích lũy được trong quá trình hỗ trợ cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Luật sư tư vấn quy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam

Để có thể tránh những rủi ro có thể phát sinh trong tương lai khi tiến hành thủ tục mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp cũng như đảm bảo thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật, nhà đầu tư cần chú ý và thực hiện những nội dung sau:

Đầu tiên, nhà đầu tư cần kiểm tra, xác định nội dung hoạt động kinh doanh (hay ngành nghề kinh doanh) của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước đầu tiên để xác định nhà đầu tư có được quyền mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hoặc nếu được quyền mua thì tỉ lệ được sở hữu vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu phần trăm,….

Vấn đề thứ hai là cần kiểm tra một cách cẩn thận tình hình hoạt động và tài liệu pháp lý của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước quan trọng nhất để nhà đầu tư xem xét và quyết định có mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hay không? Ở bước này, nhà đầu tư cần thực hiện các hoạt động như kiểm tra tài liệu pháp lý của doanh nghiệp, tiến hành kiểm toán đối với doanh nghiệp, thực hiện việc thẩm định giá để xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp… từ đó nhà đầu tư mới có thể xác định giá trị chuyển nhượng phù hợp.

Tiếp đến, nhà đầu tư cần làm là xác định quy trình thực hiện các thủ tục pháp lý để hoàn thành việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư và lên kế hoạch chi tiết thực hiện. Sau đó, nhà đầu tư cần tiến hành thực hiện các thủ tục cần thiết để hoàn tất việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, đồng thời tiến hành thay đổi các giấy phép khác của doanh nghiệp sau khi hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng (nếu có).

Theo đó, tùy vào trường hợp cụ thể đối với từng nhà đầu tư nước ngoài cần lựa chọn trình tự và triển khai các nội dung một cách linh hoạt, phù hợp theo các điều kiện tương ứng theo quy định pháp luật. Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu hỗ trợ tư vấn và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam, xin vui lòng đề xuất qua email contact@lawsolutions.com.vn.

Theo Chuyên viên pháp lý Nguyễn Văn Hiệp

Luật sư tư vấn thế nào là di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp?

(Luật sư tư vấn nội bộ doanh nghiệp) Công ty TNHH G. Việt Nam là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, được thành lập bởi nhà đầu tư duy nhất Y. (Cộng hòa Liên bang Đức), Y. thuộc sở hữu 100% của Tập đoàn G., có trụ sở tại Cộng hòa Liên bang Đức.

Tập đoàn G., theo thỏa thuận với người lao động, bổ nhiệm người lao động là các chuyên gia làm việc cho chính Tập đoàn G. và trong các công ty thành viên thuộc sở hữu 100% của mình sang công tác tại Công ty TNHH G.Việt Nam, theo chính sách của Tập đoàn được xem là điều chuyển nội bộ.

Công ty TNHH G.Việt Nam hỏi luật sư tư vấn nội bộ doanh nghiệp, Công ty có được áp dụng chính sách di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam không?

Về xác định nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài: Công ty TNHH G. được cấp chứng nhận đăng ký đầu tư với thời hạn hoạt động của dự án là 70 năm (đến ngày 18/4/2078). Do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chính xác, có yêu cầu kỹ thuật cao, Công ty dự kiến sử dụng chuyên gia nước ngoài lâu dài cho một số vị trí công việc.

Tuy nhiên, hiện tại Sở Lao động-Thương binh và Xã hội địa phương chỉ chấp thuận thời gian làm việc 2 năm khi xác nhận vị trí công việc sử dụng lao động nước ngoài cho Công ty, dẫn đến việc Công ty phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài ít nhất 2 năm/lần, trong khi Công ty có kế hoạch sử dụng lâu dài ngay từ đầu.

Công ty hỏi, pháp luật Việt Nam có giới hạn về thời gian làm việc khi xác định nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài không? Trường hợp của Công ty có thể được xác nhận dài hơn 2 năm không (để giảm thủ tục hành chính)?

Về mẫu biểu sử dụng trong xác định nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài: Theo quy định tại Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH, Công ty hiểu rằng:

Mẫu số 01 – Giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài được sử dụng khi đăng ký lần đầu và đăng ký gia hạn các lần kế tiếp khi văn bản chấp thuận lần trước hết hạn.

Mẫu số 02 – Giải trình thay đổi nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài được sử dụng trong quá trình văn bản chấp thuận vẫn đang còn hiệu lực, tuy nhiên đơn vị sử dụng lao động nước ngoài có nhu cầu thay đổi về số lượng (như tăng thêm), vị trí, thời hạn (như dài thêm)…

Công ty hiểu và áp dụng các mẫu biểu như trên có đúng quy định không?

Luật sư tư vấn nội bộ doanh nghiệp

Về vấn đề này, Luật sư tư vấn nội bộ doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 3/2/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì người lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật của một doanh nghiệp nước ngoài đã thành lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam, di chuyển tạm thời trong nội bộ doanh nghiệp sang hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng.

Như vậy, người lao động nước ngoài nêu trên phải được tuyển dụng trước đó ít nhất 12 tháng, đang làm việc tại một doanh nghiệp nước ngoài nhưng được cử sang làm việc tại hiện diện thương mại của doanh nghiệp nước ngoài đó trên lãnh thổ Việt Nam là di chuyển nội bộ doanh nghiệp. Đồng thời, người lao động nước ngoài phải có các giấy tờ chứng minh đã được doanh nghiệp nước ngoài tuyển dụng ít nhất trước đó 12 tháng tính đến thời điểm doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ hợp lệ.

Xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 4 Nghị định 11/2016/NĐ-CP, đã được sửa đổi theo quy định tại Khoản 2, Điều 11 Nghị định 140/2018/NĐ-CP thì người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với UBND cấp tỉnh nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.

UBND cấp tỉnh có văn bản chấp thuận cho người sử dụng lao động về việc sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc.

Về giải trình thay đổi nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, tại Mẫu biểu số 2 Phụ lục III Thông tư 18/2018/TT-BLĐTBXH ngày 30/10/2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư liên quan đến thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định giải trình thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài của người sử dụng lao động.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Công ty Luật Giải Pháp Việt tham dự hội thảo tham vấn báo cáo nghiên cứu Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài

Ngày 15/6/2020, Bộ Tư pháp, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP Việt Nam) và Đại sứ quán Anh tại Hà Nội tổ chức “Hội thảo tham vấn Báo cáo nghiên cứu về các quy định của Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài”. Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật Giải Pháp Việt đã có buổi tham dự và chia sẻ thông tin cùng các chuyên gia.

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm tham dự hội thảo tham vấn (Nguôn hình ảnh: UNDP)

Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài nói chung và việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài hiệu quả có một vai trò, tác động quan trọng đối với tiến trình Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, là yếu tố góp phần xây dựng một môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch và quyết tâm cải cách pháp luật, cảnh cách tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc – (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Cùng với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, Luật Mẫu của Ủy ban Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 (được bổ sung năm 2006) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về trọng tài với mục đích hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài thương mại; áp dụng thống nhất thủ tục tố tụng trọng tài để giải quyết hiệu quả các tranh chấp thương mại quốc tế, nhất là việc quy định rõ trách nhiệm của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài. Sự ưu việt của Luật mẫu thể hiện ở thực tế là cho đến thời điểm hiện nay đã có 83 quốc gia và 116 hệ thống pháp luật áp dụng các quy định của Luật này. Vì vậy, việc nghiên cứu quy định của Luật mẫu, so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam để từ đó có những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trọng tài là rất thiết thực.

 

Hội thảo tham vấn được tổ chức nhằm thu thập ý kiến bình luận, góp ý của các chuyên gia đối với dự thảo Báo cáo và thảo luận về khả năng áp dụng các quy định này của Luật Mẫu UNCITRAL tại Việt Nam dưới góc nhìn đa dạng từ các chuyên gia. Bên cạnh đó, Hội thảo cũng chia sẻ và thảo luận về những kinh nghiệm quốc tế về áp dụng, thực thi các quy định của Luật Mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài, qua đó đưa ra những đề xuất đối với Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung – Chánh toà Kinh tế TAND TP.HCM phát biểu tại hội thảo (Nguồn hình ảnh: UNDP).

Các ý kiến phát biểu đều cho rằng báo cáo được chuẩn bị rất công phu, có nhiều thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, cần phải cung cấp thêm các số liệu thực tiễn và các khuyến nghị cần phải cụ thể, chi tiết và sát với thực tiễn của Việt Nam hơn.

Giáo sư Richard Garnet của trường Đại học Melbourne tại Ôxtrâylia đã tham dự hội thảo từ xa và trình bày kinh nghiệm thực thi Luật Mẫu tại một số khu vực pháp lý tại châu Á – Thái Bình Dương, cho ý kiến đóng góp để các chuyên gia trong nước chỉnh lý báo cáo (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Bắt đầu từ tháng 7/2019, Việt Nam đã bắt đầu đảm nhận vai trò thành viên UNCITRAL nhiệm kỳ 2019-2025, trở thành thành viên của UNCITRAL trong nhiệm kỳ mới này là “cơ hội vàng” bởi chúng ta sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào quá trình thảo luận, xem xét các vấn đề mà các quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân đặt ra trong các vấn đề thương mại quốc tế. Việt Nam cũng sẽ có tiếng nói sớm hơn, sâu hơn đối với các văn bản, văn kiện được xem xét; nhờ đó không chỉ có thể đóng góp vào công việc chung của thương mại quốc tế mà còn có thể bảo đảm những lợi ích chính đáng của mình.

“Một vấn đề nữa là quá trình tham gia đó sẽ giúp chúng ta tích lũy thêm kinh nghiệm, trí thức để vận dụng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của chúng ta, thực thi tốt hơn những công ước ở trong nước, đào tạo cán bộ, tăng cường khả năng phối hợp giữa các bộ ngành liên quan.Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Việt Nam phải tham vấn các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao năng lực pháp lý nói chung không chỉ của cơ quan nhà nước mà cả các cơ chế, các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp…Một trong những vấn đề đang được trao đổi rất nhiều hiện nay là chúng ta nên cân nhắc đến vấn đề thay đổi một số cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và các nhà đầu tư. Việt Nam là một trong những điểm đến, thu hút nhiều đầu tư nước ngoài” – Luật sư Tâm chia sẻ cùng các chuyên gia.

Trong tương lai chắc chắn sẽ nảy sinh những tranh chấp giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp Việt Nam, nên vấn đề thay đổi hệ thống này cho hiệu quả hơn là rất quan trọng. Câu hỏi được đặt ra là nếu xảy ra tranh chấp thì quá trình giải quyết có thể kéo dài, tốn kém, liệu có khách quan hay không, có bảo vệ được lợi ích của cả hai bên hay không? Đối với các quốc gia đang phát triển với tình trạng đội ngũ luật sư, tri thức về luật còn hạn chế, nguồn tài chính hạn chế … thì làm sao giảm thiểu tranh chấp. Và khi xảy ra tranh chấp và đưa ra các cơ chế pháp lý quốc tế như trọng tài thương mại hoặc các cơ chế khác thì làm sao phải đảm bảo lợi ích chính đáng công bằng cho cả hai bên. Việc chúng ta tham gia được vào thảo luận, nghiên cứu, thương lượng trong các nhóm tại UNCITRAL giúp chúng ta đóng góp được ngay từ quá trình định hình các thể chế quốc tế. Từ đó, chúng ta có kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của chính mình, trước hết là trong lĩnh vực thương mại./.

Theo công ty Luật Giải Pháp Việt

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Ngày 11/6/2020, Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương tổ chức họp mặt hội viên 6 tháng đầu năm và Lễ kết nạp Hội viên mới. Tiếp nối những kết quả đạt được trong những năm qua, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt vinh dự trở thành Hội viên Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương.

Luật sư Khưu Thanh Tâm tại buổi họp mặt và trao giấy chứng nhận.

Tham gia Hội viên Hội doanh nhân trẻ Bình Dương với mục tiêu liên kết hợp tác và cùng hỗ trợ nhau để phát triển. Trong thời gian sắp tới, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt hy vọng sẽ có thể hỗ trợ tư vấn pháp lý và phổ biến pháp luật cho cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trẻ và người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Bên cạnh đó, Giải Pháp Việt sẽ phối hợp, đồng hành cùng các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội và lan toả những hành động tốt đẹp vì cộng đồng tỉnh Bình Dương. Với mục đích góp phần nhỏ của mình hỗ trợ những hoàn cảnh và điều kiện sống khó khăn, san sẻ một phần và tạo động lực để họ vươn lên trong cuộc sống. Chúng tôi thiết nghĩ hoạt động cộng đồng không những là tấm lòng tương thân tương ái mà còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội địa phương, xây dựng thành công thành phố thông minh Bình Dương./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế”

Sáng ngày 09/06/2020, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham dự buổi hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế” do Khoa Luật trường – Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP. Hồ Chí Minh (HUFLIT) tổ chức. (Luật sư tư vấn luật  doanh nghiệp)

Quang cảnh hội thảo

TS. Bùi Kim Hiếu – Trưởng Khoa Luật trường Đại học Ngoại Ngữ – Tin Học TP.HCM bắt đầu với chủ đề “Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp – Bất cập và hướng hoàn thiện”. Theo tiến sĩ, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp chính vì vậy sự chú trọng về ưu đãi đối với các doanh nghiệp tại đây là một điều khá quan trọng và cần hoàn thiện nhằm phù hợp với pháp luật hiện hành.

Phát biểu tại hội thảo, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm chia sẻ:

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm phát biểu tại hội thảo (Nguồn ảnh: Huflit)

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang thực hiện ở nước ta, có nhiều vấn đề mới nảy sinh, một số ngành nghề mới xuất hiện mà chưa có pháp luật điều chỉnh. Đáng lưu ý hơn, sau tình hình dịch bệnh Covid -19, chúng ta cần cân nhắc đến các biện pháp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, bởi đây là yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài sau đợt khủng hoảng này. Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng nêu ví dụ cụ thể, liên quan đến điều khoản về bảo đảm đầu tư khi có sự thay đổi của pháp luật đã được quy định tại Điều 13 của Luật Đầu tư, tuy nhiên, quy định này mới chỉ dừng lại ở sự thay đổi văn bản pháp luật về ưu đãi đầu tư. Trong quá trình luật sư tư vấn luật doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp thì nhà đầu tư đòi hỏi nhiều hơn thế, bao gồm: bảo đảm quyền sở hữu tài sản từ hữu hình cho đến sở hữu về trí tuệ, bảo đảm chuyển tài sản và lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư ra nước ngoài, bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, bảo đảm đầu tư đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.

Bên cạnh đó, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng chia sẻ về các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cần phải tạo được sự cạnh tranh lành mạnh. Cụ thể, kể từ khi chúng ta có Luật Đầu tư nước ngoài, rất nhiều đạo luật liên quan đến doanh nghiệp, đầu tư đều đưa vào các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế. Công thức cơ bản chúng ta thường thấy là miễn thuế 5 năm đầu, 9 năm tiếp theo được miễn giảm 50% đối với thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chúng ta có thể tìm thấy những ưu đãi thuế ở rất nhiều luật, quy định về đặc khu kinh tế đến khu chế xuất, khu công nghiệp… Nhưng liệu những ưu đãi này có thực sự phát huy tác dụng đối với doanh nghiệp? Với nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư, những năm đầu hoạt động sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận không có thì lấy gì nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, chính sách miễn thuế thực chất có phát huy tác dụng hay không? Hết giai đoạn miễn thuế, đến giai đoạn giảm thuế 50%, vẫn có nhiều doanh nghiệp hàng chục năm sau vẫn không có thu nhập để nộp thuế. Nguyên nhân thì có nhiều và không loại trừ trường hợp doanh nghiệp gian dối thu nhập.

Chưa kể vấn đề về cách thức được nhận ưu đãi. Doanh nghiệp không được tự động ưu đãi, tức là cứ đáp ứng đủ điều kiện thì được ưu đãi mà vẫn phải qua sự xét duyệt của cơ quan quản lý. Và hậu quả là có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng mức ưu đãi cao hơn, thời gian kéo dài hơn so với quy định chung. Vô hình trung, chính sách miễn giảm thuế đã tạo ra kẽ hở để người ta lợi dụng, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh.

Hội thảo năm nay đã thu hút nhiều bài tham luận của các phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia về luật, các luật sư đến từ các công ty Luật uy tín, các giảng viên ngành luật tại nhiều trường Đại học nổi tiếng ở Việt Nam với nhiều góc nhìn đa chiều về các quy định pháp luật hiện nay.

Ngoài ra, buổi hội thảo được nhiều phiên thảo luận về các vấn đề khác nhau như: pháp luật về hộ kinh doanh gia đình;  quản lý các công ty cổ phần; góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất; pháp luật về con dấu của doanh nghiệp… hội thảo cũng bàn luận đến những điểm mới của Luật cạnh tranh 2018; về những điểm cạnh tranh không lành mạnh trong một số lĩnh vực; về các mối quan hệ giữa luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ.

Theo luật sư tư vấn luật doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Luật sư tư vấn chuyển nhượng nhà xưởng

Theo luật sư tư vấn chuyển nhượng nhà xưởng, cùng với nhu cầu triển khai hoạt động sản xuất tăng, hoạt động chuyển nhượng nhà xưởng sẵn có thời gian gần đây tại Việt Nam cũng diễn ra khá sôi nổi. Việc nhận chuyển nhượng nhà xưởng có sẵn vừa giúp cho nhà đầu tư, doanh nghiệp có thể sớm triển khai hoạt động sản xuất vừa tiết kiệm khá nhiều chi phí so với việc xây dựng nhà xưởng mới. Một thương vụ chuyển nhượng nhà xưởng tại Việt Nam thường có giá trị rất lớn và quyết định đến sự thành công trong kế hoạch kinh doanh của nhà đầu tư, doanh nghiệp. Chính vì vậy, khi nhận chuyển nhượng nhà xưởng sẵn có thì ngoài việc nghiên cứu vị trí, tình trạng, chất lượng,…của nhà xưởng để xác định có phù hợp với kế hoạch kinh doanh hay không, nhà đầu tư, doanh nghiệp cần phải nẵm rõ các vấn đề pháp lý về nhà xưởng dự định nhận chuyển nhượng để tránh những rủi ro có thể phát sinh khi nhận chuyển nhượng.

Luật sư tư vấn chuyển nhượng nhà xưởng công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ đến nhà đầu tư, doanh nghiệp những vấn đề pháp lý cần chú ý khi nhận chuyển nhượng nhà xưởng tại Việt Nam.

Luật sư tư vấn chuyển nhượng nhà xưởng

– Thứ nhất, cần kiểm tra các tài liệu pháp lý của nhà xưởng. Tùy theo mỗi nhà xưởng mà số tài liệu pháp lý cần kiểm tra sẽ có sự khác nhau, tuy nhiên trước khi nhận chuyển nhượng nhà xưởng nhà đầu tư/doanh nghiệp thông thường cần kiểm tra các tài liệu sau đây: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (trước đây là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), Giấy chứng nhận sở hữu công trình, Giấy xác nhận hoàn công công trình, Giấy phép xây dựng, Giấy xác nhận về PCCC, Bản vẽ thiết kế,…

– Thứ hai, cần tìm hiểu các thông tin của tài liệu pháp lý để xác định chính xác những thông tin quan trọng của nhà xưởng như: Chủ sở hữu hợp pháp của nhà xưởng ai? Chủ nhà xưởng có đồng thời là chủ sở hữu quyền sử dụng khu đất của nhà xưởng hay không? Những hạn chế đối với việc sử dụng nhà xưởng? Hay việc sử dụng đất của nhà xưởng là theo hình thức nào?…. Điều này rất quan trọng trong việc xác định đúng người có quyền thực hiện giao dịch chuyển nhượng nhà xưởng để tránh tranh chấp quyền sở hữu nhà xưởng trong tương lai, đồng thời giúp nắm rõ những hạn chế trong việc chuyển nhượng, sử dụng nhà xưởng, khu đất của nhà xưởng để xác định phương án nhận chuyển nhượng phù hợp, có kế hoạch sử dụng hiệu quả, tránh phát sinh thêm nhiều chi phí trong tương lai,…

– Thứ ba, cần xác định phương án nhận chuyển nhượng nhà xưởng và lên kế hoạch nhận chuyển nhượng phù hợp. Tùy theo tình trạng pháp lý của nhà xưởng như phân tích trên đây nhà đầu tư cần có phương án nhận chuyển nhượng phù hợp. Ví dụ như trường hợp chủ sở hữu nhà xưởng sử dụng đất theo hình thức thuê của đơn vị đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp thì bên cạnh nhận chuyển nhượng nhà xưởng cần phải ký hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất có xác nhận của đơn vị đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp….

– Thứ tư, hợp đồng chuyển nhượng nhà xưởng. Đây là nội dung quan trọng của quá trình nhận chuyển nhượng nhà xưởng, bởi lẽ hợp đồng chuyển nhượng nhà xưởng là văn bản pháp lý thể hiện các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, doanh nghiệp khi nhận chuyển nhượng nhà xưởng. Chính vì vậy nhà đầu tư/doanh nghiệp cần phải chú ý việc bảo đảm sự an toàn pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng, đồng thời kiểm soát và dự báo được vấn đề cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai.

Trên đây là một số điểm lưu ý Luật sư tư vấn chuyển nhượng nhà xưởng công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt muốn chia sẻ đến nhà đầu tư, doanh nghiệp liên quan đến việc nhận chuyển nhượng nhà xưởng. Trường hợp nhà đầu tư, doanh nghiệp có nhu cầu tư vấn hỗ trợ trong hoạt động nhận chuyển nhượng nhà xưởng, xin vui lòng gửi thông tin đề xuất đến chúng tôi:

Trụ sở chính: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Chi nhánh: Số 12 Đường E, Trung tâm hành chính, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Email: contact@lawsolutions.com.vn

Website: http://lawsolutions.com.vn/

Theo Chuyên viên pháp lý Nguyễn Văn Hiệp

Luật sư tư vấn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Theo luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, nếu tranh chấp đất đai có thể được giải quyết theo hai phương thức khởi kiện tại tòa án hoặc khiếu nại lên cơ quan nhà nước thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai sẽ thực hiện như thế nào?

Luật sư tư vấn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Theo luật sư tư vấn thứ nhất thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo trình tự tố tụng dân sự (còn gọi cụ thể là giải quyết thông qua con đường tòa án).

Luật sư tư vấn nêu rõ: Tòa án chỉ thụ lý giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai khi đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi có bất động sản đó).

Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của tòa án. Khi tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Khác với hoạt động hòa giải trước khi khởi kiện, đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự do chính tòa án chủ trì và tiến hành. Nếu hòa giải thành thì tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc. Nếu hòa giải không thành thì tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Luật sư tư vấn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai xin viện dẫn để minh chứng bằng một tình huống cụ thể:

Vụ tranh chấp giữa bà Trần H và cụ Nguyễn B. Cụ Trần K và cụ Nguyễn B (cụ K đã chết từ lâu) được cha, mẹ để lại cho mảnh đất có diện tích là 709m2 tại xã T, huyện L, tỉnh TG và do cụ B đứng tên trong sổ địa chính của xã. Bà H là con gái đầu của hai cụ, lấy chồng nhà kế bên. Từ những năm 1988 đến năm 1990, vợ chồng bà H đã san lấp ao, quản lý sử dụng diện tích đất là 129m2 nằm trong mảnh đất có diện tích 709m2 nói trên và xây nhà tạm trên diện tích đất đó mà cụ B không có ý kiến gì. Nay bà H muốn khởi kiện cụ B tại TAND huyện L, tỉnh TG yêu cầu được tách mảnh đất có diện tích là 129m2 để đứng tên bà hoặc yêu cầu cụ B thanh toán cho bà tiền san lấp ao và giá trị công trình xây dựng trên đất đó. Ở đây, yêu cầu của bà H được tách mảnh đất có diện tích 129m2 để đứng tên bà sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bởi ở đây là yêu cầu tách đất chứ không phải là đòi đất, đòi nhà, tranh chấp quyền sử dụng đất.

Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào?

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thường thuộc các quan hệ tranh chấp nằm ở một trong hai trường hợp tranh chấp sau:

– Tranh chấp đất đai mà trên đất không có tài sản;

– Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Trong mỗi trường hợp trên lại chia thành bốn dạng:

+ Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất;

+ Chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;

+ Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất, tài sản gắn liền với đất;

+ Thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Do đó, tranh chấp đất sẽ do tòa án nơi có đất có thẩm quyền giải quyết. Nếu đất đai có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi có một trong các diện tích đất giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, sau khi xác định tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thì cũng cần phải xác định tranh chấp có liên quan đến đương sự, kể cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài không? Nếu tranh chấp có liên quan đến đương sự, kể cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài thì sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh nơi có đất tranh chấp.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2014 (ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành), đối với loại tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về việc xác định ai là người có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất dù đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hay chưa, nhưng đương sự khởi kiện đến tòa án thì tòa án đều phải thụ lý để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là một trong những điểm mới của Luật Đất đai năm 2013 (trước đây, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Tuy nhiên, nếu đất đã có giấy tờ nêu trên nhưng đương sự khiếu nại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND hoặc tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính).

Vấn đề thứ hai luật sư tư vấn chia sẻ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự hành chính

Trình tự này sẽ được áp dụng đối với những tranh chấp mà các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND. Đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch UBND cấp huyện. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa các đối tượng đó với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thì các đương sự này có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nếu một trong các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu này thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường để yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, Luật cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu thì vẫn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, ví dụ như:

Ông A và ông B tranh chấp với nhau quyền sử dụng đất là 80m2, nguồn gốc đất là đất khai hoang, đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không có bất cứ loại giấy tờ nào theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, giữa hai bên tranh chấp đã qua thủ tục hòa giải bắt buộc tại UBND xã nơi có đất tranh chấp nhưng hòa giải không thành, sau đó hai bên đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp huyện và cũng có Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện, không thỏa đáng với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, hai bên A và B có quyền khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tới tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất yêu cầu giải quyết.

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai.

Trên đây là bài viết luật sư tư vấn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, mọi thắc mắc, quý độc giả vui lòng liên hệ:

Trụ sở chính: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Chi nhánh: Số 12 Đường E, Trung tâm hành chính, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Email: contact@lawsolutions.com.vn

Website: http://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai

Luật sư tư vấn trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đã có bài phân tích các dạng tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong bài viết này, Chúng tôi sẽ tiếp tục gửi đến quý độc giả các vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai.

Tranh chấp đất đai có thể được giải quyết theo hai phương thức: Một là, khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền; Hai là, khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, tương ứng với mỗi phương thức thì trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai cũng khác nhau.

Trước hết, dù theo con đường tố tụng tại tòa án hoặc thủ tục giải quyết tại cơ quan hành chính nhà nước thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp là thủ tục và điều kiện bắt buộc. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 còn quy định khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để tiến hành hòa giải.

Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013:

Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình với thành phần Hội đồng hòa giải cấp xã gồm:

+ Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng;

+ Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn;

+ Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn;

+ Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;

+ Công chức địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);

+ Công chức Tư pháp – Hộ tịch xã, phường, thị trấn.

Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai được UBND cấp xã thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác để trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Thứ hai, trách nhiệm của UBND cấp xã khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Sau khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai của các bên đương sự, UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp phải thực hiện các thủ tục sau:

– Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

– Thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải;

– Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt, trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là hòa giải không thành;

– Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung:

+ Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải;

+ Thành phần tham dự hòa giải;

+ Tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu);

+ Ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai;

+ Những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận;

+ Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.
Sau khi tiến hành hòa giải, các bên có ý kiến phát sinh thì sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành, thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

Đối với trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành, mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải: UBND cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trên đây là bài viết luật sư tư vấn trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, mọi thắc mắc, quý độc giả vui lòng liên hệ:

Trụ sở chính: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Chi nhánh: Số 12 Đường E, Trung tâm hành chính, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Email: contact@lawsolutions.com.vn

Website: http://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các dạng tranh chấp quyền sử dụng đất