Lãi suất ngân hàng trong bối cảnh dịch Covid-19 – Đâu là giải pháp cho các doanh nghiệp?

(Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp) Trước tình hình dịch Covid – 19 vẫn đang diễn ra vô cùng phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, doanh thu giảm sút trầm trọng. Ngày 04/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 11/CT-TTg về nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid – 19. Cụ thể, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như: cơ cấu lại thời gian trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí,… đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Ngày 13/3/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng, doanh nghiệp trong mùa dịch. Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn doanh nghiệp Giải Pháp Việt chia sẻ kinh nghiệm về thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp - Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Doanh nghiệp được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Khoản 1, Điều 4 Thông tư 01/TT-NHNN

– Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính; Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid – 19; Doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Theo đó, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký;

Thứ hai, số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp quy định tại điểm thứ nhất) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 01 thì ngân hàng quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp và đánh giá của ngân hàng về khả năng trả nợ đầy đủ gốc và/hoặc lãi của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, phù hợp với mức độ ảnh hưởng của dịch Covid – 19, làm cơ sở để xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trình tự, thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ do ngân hàng quy định tại quy định nội bộ nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu theo Thông tư 01.

Doanh nghiệp được miễn, giảm lãi, phí

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid -19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Doanh nghiệp được giữ nguyên nhóm nợ

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/01/2020 đối với số dư nợ sau đây:

– Số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

– Số dư nợ được miễn, giảm lãi

– Số dư nợ quy định tại 2 điểm bên trên bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020

Như vậy, nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19 thì doanh nghiệp có thể gửi công văn đề nghị ngân hàng xem xét hỗ trợ. Tùy theo quy định nội bộ của từng ngân hàng mà sẽ có hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chuẩn bị các hồ sơ cần thiết như giấy đề nghị miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, báo cáo tài chính 6 tháng gần nhất, thuế giá trị gia tăng năm trước liền kề… để chứng minh được doanh thu của mình bị giảm sút và bị thiệt hại do dịch Covid – 19. Ngân hàng sẽ dựa trên hồ sơ doanh nghiệp cung cấp để có cơ sở thẩm định, xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tiến hành giảm lãi suất khoản vay.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 2)

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã phân tích về một số bất cập ngoại trừ trong điều kiện đối với đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những ngoại trừ về điều kiện của đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Khoản 3, Điều 18, Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014).

Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định các đối tượng bị cấm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (PVG) trong doanh nghiệp. Điều khoản này không trực tiếp nói đến việc cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng về bản chất một khi các đối tượng bị cấm góp vốn thì họ cũng sẽ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp và cấm góp thêm vốn điều lệ (VĐL) của doanh nghiệp đã được thành lập (Khoản 13 Điều 4 LDN 2014). Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm, trong đó, nhóm đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 được dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Như vậy, muốn biết rõ đối tượng nào bị cấm góp vốn theo điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 thì phải xem quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, cụ thể là khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng 2018: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ, chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước”. Điều khoản này quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm:

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Nhóm đầu tiên là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước. Lý do bởi vì họ đều là cán bộ, công chức nhà nước nên đối tượng này còn chịu sự điều chỉnh của khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Do đó, nhóm này không chỉ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà còn bị cấm góp vốn thành lập những doanh nghiệp khác. Nhưng nếu góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập thì nhóm này chỉ bị cấm đối với những doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà thôi.

Nhóm đối tượng thứ hai là vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước bị cấm kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước. Theo khoản 16 Điều 4 LDN 2014, kinh doanh được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”, theo đó nội hàm của “kinh doanh” sẽ bao gồm công đoạn “đầu tư”; mà công đoạn “đầu tư” lại bao gồm hoạt động “góp vốn” vì khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa về “đầu tư” như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Như vậy, “kinh doanh” mà khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đề cập cũng sẽ bao gồm cả hoạt động góp vốn. Hay nói cách khác vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu bị cấm kinh doanh thì cũng sẽ bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, bao gồm cả cấm góp vốn thành lập và cấm góp thêm VDL vào những doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, không giống như người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước được quy định minh thị tại điểm b khoản 2 Điều 18 LDN 2014 – quy định về các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp; nhóm đối tượng vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước tuy cũng bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp, nhưng lại không thấy nhắc đến tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Rõ ràng thiếu sót như thế sẽ tạo cách hiểu không thống nhất trong LDN 2014. Do đó, thiết nghĩ LDN 2014 cần bổ sung nhóm đối tượng này vào đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

 

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, về đối tượng được quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014), tuy nhiên Luật này cũng có quy định theo nguyên tắc loại trừ. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 LDN 2014.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, trong số các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp được liệt kê tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014, vẫn có ý kiến trái chiều xoay quanh đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý kiến này cho rằng, việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, bởi lẽ theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013: ”Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không hẳn sẽ bị tòa án tuyên có tội; đồng thời theo nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật hình sự thì trong giai đoạn truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này vẫn được xem là người vô tội. Vì là người vô tội nên họ cần có các quyền cơ bản như những công dân bình thường khác, bao gồm cả quyền tự do kinh doanh và quyền thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc LDN 2014 cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là chưa hợp lý và thậm chí còn mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013. Thiết nghĩ, cũng giống như quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN 2005, LDN 2014 nên đưa người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi quy định cấm thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp, họ bị tòa án tuyên bố có tội và buộc phải thi hành hình phạt tù thì họ có thể lựa chọn thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp bằng cách chuyển nhượng, tặng, cho phần vốn góp (PVG)/ cổ phần cho người khác có đủ điều kiện theo luật định; nếu không tiến hành thayd đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào khoản 20 Điều 1 Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 về “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 14//2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp để thu hồi Giấy CNĐKDN đối với trường hợp trên.  

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 cũng đề cập đến một loại giấy tờ mà LDN 2005 trước kia không yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp, đó là Phiếu lý lịch tư pháp. Theo quy định, khi có yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh (cơ quan ĐKKD), người thành lập doanh nghiệp phải nộp thêm phiếu lý lịch tư pháp kèm với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có văn bản nào của cơ quan lập pháp lý giải vì sao lại yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp và trong những trường hợp cụ thể nào cơ quan ĐKKD được quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp loại giấy tờ này. Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp, chúng tôi thiết nghĩ việc LDN 2014 quy định thêm về phiếu lý lịch tư pháp là nhằm mục đích hỗ trợ cơ quan ĐKKD trong việc xác định người thành lập doanh nghiệp có rơi vào các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 hay không. Tuy nhiên, nếu xem xét định nghĩa về phiếu lý lịch tư pháp quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì “Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhận chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản”. Như vậy, phiếu lý lịch tư pháp chỉ giúp loại trừ được đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp trong trường hợp trước đó doanh nghiệp của người này bị tuyên bố phá sản theo quyết định của tòa án mà thôi; ngoài ra, các trường hợp còn lại quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN2014 thì không thể dựa vào phiếu lý lịch tư pháp để xác định được. Quan trọng hơn cả, việc LDN 2014 quy định một cách chung chung, không nêu rõ trường hợp cụ thể nào người thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu này bị áp dụng một cách tùy nghi, mà bản thân người bị yêu cầu cũng không rõ lý do vì sao. Quy định về yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp so với LDN 2005 tuy mới nhưng suy cho cùng không mang lại hiệu quả như mong đợi, thay vào đó còn làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp trở nên rườm rà và thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp bị kéo dài hơn. Bởi lẽ, nếu bị yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp, thời hạn để doanh nghiệp hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp có thể bị kéo dài thêm 10 ngày so với thời hạn thông thường. Trong khi đó, theo chủ trương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sắp tới cần theo hướng đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp hơn nữa.

Để phù hợp với chủ trương của Bộ cũng như giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp, LDN 2014 nên bỏ yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với người thành lập doanh nghiệp. Hơn nữa, thực tế trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn nhận, nếu người thành lập doanh nghiệp rơi vào các trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp còn lại của khoản 2 Điều 18 LDN 2014 thì vốn dĩ cơ quan ĐKKD cũng chỉ có thể hậu kiểm, tức phát hiện hay kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy CNĐKDN, cho nên trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp do trước đó doanh nghiệp của người này bị tòa án tuyên bố phá sản cũng nên áp dụng tương tự như vậy./.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014): “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ (VĐL) của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập”. Như vậy, bước đầu LDN 2014 đưa ra định nghĩa chung về “góp vốn”, sau đó chia “góp vốn” thành hai trường hợp

  • Góp vốn để thành lập doanh nghiệp
  • Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập.

Mặc dù, hai trường hợp góp vốn này không được định nghĩa chính thức trong LDN 2014, nhưng dựa vào một số quy định liên quan, luật sư tư vấn doanh nghiệp có thể phân tích như sau:

Góp vốn để thành lập doanh nghiệp: Là trường hợp cá nhân, tổ chức góp tài sản theo cam kết nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp. Cam kết này hình thành trước khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN), hay có thể hiểu theo cách khác cam kết hình thành trước khi doanh nghiệp chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý và tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức trong giai đoạn này sẽ tạo thành VĐL ban đầu để doanh nghiệp hoạt động.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập: là trường hợp cá nhân, tổ chức tiến hành góp tài sản để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn của họ được hình thành khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, tức là sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNDDKDN. Tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức không tạo lập nên VĐL ban đầu cho doanh nghiệp mà những tài sản này sẽ làm gia tăng VĐL sẵn có của doanh nghiệp.

Nếu chỉ giới hạn khái niệm “góp vốn” ở hai trường hợp nêu trên thì quả thực khoản 13 Điều 4 LDN 2014 liệt kê chưa đầy đủ các trường hợp góp vốn. Trên thực tế, trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, chúng tôi thấy rõ việc các trường hợp cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG hoàn toàn không có hành vi trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp; thậm chí PVG mà họ được thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ, nhận chuyển nhượng cũng không nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp hay làm tăng thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập. Có nghĩa, việc sở hữu PVG cả cá nhân, tổ chức này không thuộc hai trường hợp góp vốn được liệt kê tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014. Thế nhưng, điều này không thể phủ nhận việc họ góp vốn vào doanh nghiệp . Tại sao chúng tôi lại ghi nhận như thế? Vì khi xét đến định nghĩa chung về góp vốn tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014 thì cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG vẫn sở hữu PVG tạo thành VĐL của doanh nghiệp, họ vẫn được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do vậy, về bản chất, những đối tượng này vẫn có hành vi góp vốn một cách “gián tiếp” cho dù không thực hiện hai hành vi góp vốn quy định tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014.

Từ những điểm bất cập nêu trên, luật sư tư vấn doanh nghiệp thiết nghĩ khoản 13 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về “góp vốn” theo cách thức liệt kê là chưa thực sự hợp lý. Khoản 13 Điều 4 LDN 2014 nên lược bỏ quy định liệt kê hai hành vi góp vốn là: (1) Góp vốn để thành lập doanh nghiệp và (2) Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập; thay vào chỉ nên giữ lại phần định nghĩa chung về “góp vốn”. Với cách quy định khái quát, nêu rõ bản chất của “góp vốn” là gì, sẽ giúp quy định của LDN 2014 ổn định hơn và bao quát tất cả các trường hợp góp vốn hiện còn bỏ sót, kể cả những trường hợp góp vốn có thể sẽ phát sinh dưới những hình thái khác trong tương lai./.

Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi

Hiện nay trên các trang mạng xã hội hoặc là qua tin nhắn từ điện thoại, người dân thường xuyên nhận được các lời mời cho vay tín chấp với thủ tục rất đơn giản, chỉ cần cung cấp thông tin cá nhân và các mối quan hệ nhân thân, chụp gửi CNMD của người vay tiền. Người đi vay thậm chí không biết địa chỉ trụ sở công ty cho vay tiêu dùng ở đâu…Như vậy, hình thức cho vay tín chấp như trên là đã đúng với quy định pháp luật? Dưới đây là phần chia sẻ của luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi của công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Cho vay tín chấp là một trong những hình thức cho vay rất phổ biến, đây là hình thức cho vay mà người cho vay dựa vào uy tín cá nhân của người vay để cho vay mà không cần tài sản đảm bảo cho khoản vay. Đây là một quan hệ dân sự bình thường thường hay diễn ra trong cuộc sống thường nhật, được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên hiện nay có không ít trường hợp các cá nhân/nhóm cá nhân tổ chức hoạt động cho vay dưới hình thức cho vay tín chấp khá chuyên nghiệp có hệ thống, được tổ chức bài bản với các hành vi mời chào, lôi kéo thông qua mạng xã hội, tờ rơi,…để tìm kiếm và thực hiện giao dịch cho vay đối với người có nhu cầu để thu về lợi nhuận từ tiền lãi có mục đích kinh doanh. Thực tế đây là hình thức kinh doanh dịch vụ cho vay “núp bóng” giao dịch dân sự thông thường thông qua các hợp đồng vay dân sự, không có đăng ký kinh doanh và trái với quy định pháp luật về hoạt động tín dụng.

Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ cho vay nói trên thì bắt buộc phải thành lập tổ chức tín dụng như ngân hàng, công ty tài chính và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép mới được hoạt động theo quy định của pháp luật về tín dụng.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 25 Luật các tổ chức tín dụng 2010 có quy định để một tổ chức tín dụng được đưa vào hoạt động thì thông tin về Tên, địa chỉ trụ sở chính; Số, ngày cấp Giấy phép, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,… của tổ chức tín dụng đó phải được công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và được đăng trên một tờ báo viết hàng ngày trong 3 số liên tiếp hoặc đăng trên Báo điện tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động.

Theo đó, hình thức cho vay theo như câu hỏi đề cập mà các cá nhân/nhóm cá nhân tổ chức hoạt động cho vay mà không đăng ký, không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép và không đáp ứng các điều kiện khác theo quy định pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật.

Do đó, khi có nhu cầu vay tiền có nguồn tiếp cận từ lời mời cho vay tín chấp như trên, người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin của bên cho vay cũng như xem xét những điều kiện cho vay để tránh các trường hợp bị lừa đảo, cho vay nặng lãi, lừa dối trong giao dịch cho vay,…gây thiệt hại cho người vay.

Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi (Nguồn ảnh: Internet)
Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi (Nguồn ảnh: Internet)

 

Việc cho vay tiêu dùng với thủ tục đơn giản cũng đã phần nào giải quyết những khó khăn trước mắt của người dân. Tuy nhiên, thực tế đã có không ít người đi vay trở thành “nạn nhân” của cho vay nặng lãi từ các dịch vụ cho vay tiêu dùng trực tuyến. Như vậy, làm thế nào để người dân nhận biết để tránh rơi vào bẫy của cho vay nặng lãi?

Theo luật sư tư vấn, nếu như chú ý đến những dấu hiệu của hành vi cho vay nặng lãi từ những vụ việc về cho vay nặng lãi đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lý thì không quá khó để có thể có thể nhận diện ra hoạt động cho vay nặng lãi. Để tránh “rơi” vào “bẫy” cho vay nặng lãi, trước khi quyết định vay người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin của bên cho vay từ các nguồn thông tin đáng tin cậy, kiểm tra xem hoạt động cho vay này có đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hay không, có được cấp giấy phép cho hoạt động cho vay hay không nếu thông tin của bên cho vay không rõ ràng hoặc chưa được cấp phép theo quy định pháp luật thì cần cân nhắc trước khi vay. Đồng thời người dân nên chú ý đến các đặc điểm thường gặp của hoạt động cho vay nặng lãi như:

+ Về hình thức tiếp cận người vay hay quảng cáo: Thường được thực hiện bằng cách khá sơ sài như dán tờ rơi tại các cột điện, ngã tư, trên tường nhà trong ngõ hẻm hoặc đăng những quảng cáo nhỏ trên các trang web, mạng xã hội với các nội dung như thủ tục đơn giản, nhanh chóng, không cần chứng minh, không cần thế chấp,….

+ Về điều kiện để cho vay thì khá đơn giản như chỉ cần để lại chứng minh thư, bằng lái xe hay thẻ ATM,…

+ Về hợp đồng cho vay: Thường thỏa thuận bằng một hợp đồng vay đơn giản, nội dung mập mờ không nêu rõ các điều khoản cơ bản như: cách thức thanh toán, thời hạn trả nợ, lãi suất, phí phạt, hoặc có trường hợp chỉ thỏa thuận bằng miệng.

+ Về lãi suất: lãi suất cho vay khá cao có khi lên đến hai hoặc ba trăm phần trăm mỗi năm, tiền lãi thường được gộp vào tiền gốc,… Ngoài ra còn có các khoản phạt dẫn đến số tiền phải trả theo kỳ rất cao.

Do đó, người dân nên chú ý những dấu hiệu trên cân nhắc thật kỹ trước khi thực hiện giao dịch vay nhằm tránh cạm bẫy của hoạt động cho vay nặng lãi. Ngoài ra khi có nhu cầu vay người dân nên cân nhắc lựa chọn các hình thức cho vay hợp pháp thông qua các ngân hàng hay công ty tín dụng với mức lãi suất phù hợp theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi trong trường hợp phát hiện hoặc đã là nạn nhân của các đối tượng này, tốt nhất người dân cần làm gì?

Như các bạn đã biết, khi đã sập bẫy của hoạt động cho vay nặng lãi các nạn nhân phải trả số tiền gốc và tiền lãi theo kỳ vốn đã rất cao, trường hợp không thể trả thì số tiền nợ và gốc này sẽ trở thành nợ gốc và tiếp tục quay vào vòng quay tính lãi, nhiều trường hợp số tiền thực tế nạn nhân phải trả lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm lần số tiền vay ban đầu chỉ trong một thời gian ngắn. Đa số các nạn nhân đã sập bẫy cho vay nặng lãi đều khó có thể tự thoát ra do không có khả năng chi trả và do đó họ và gia đình phải đối mặt với các hành vi khủng bố tinh thần, đe dọa, bêu rếu, bắt giữ người, xâm hại đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của các đối tượng cho vay nặng lãi.

Do đó khi phát hiện hành vi cho vay nặng lãi hoặc bản thân là nạn nhân của hoạt động cho vay nặng lãi người dân nên trình báo và phối hợp với cơ quan công an để nhờ sự can thiệp và có biện pháp cũng như có hướng giải quyết theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi theo quy định pháp luật sẽ bị xử lý ra sao?

Hành vi cho vay nặng lãi là hành vi vi phạm quy định pháp luật hình sự. Cụ thể theo quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

– Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự trở lên mà

– Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng

 – Hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này

– Hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Trường hợp Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra cũng cần lưu ý thêm rằng những hành vi cho vay có mức lãi suất cao nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ luật Hình sự nói trên có thể áp dụng quy định pháp luật dân sự, hành chính để xử lý như:

  • Đối với hợp đồng vay dân sự thông thường theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, theo đó thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn nói trên thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
  • Đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản của các tổ chức kinh doanh dịch vụ cho vay, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay sẽ bị phạt vi phạm hành chính từ 5 triệu đồng đến 15 triệu đồng theo quy định tại Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013. 

Đây là bài viết luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi của công ty luật TNHH Giải Pháp Việt. Bài viết này được trích từ phần tư vấn cho Kênh VOA FM 89.9 MHz. Hy vọng những chia sẻ trên sẽ mang đến thông tin hữu ích cho Quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp dân sự

Luật sư tư vấn Giải Pháp Việt và chuyên đề giáo dục an toàn giao thông

Ở Việt Nam việc đội mũ bảo hiểm với người tham gia giao thông bằng xe máy đã là điều bắt buộc từ rất nhiều năm gần đây. Theo Khoản 3, Điều 6 của Nghị định 46 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ thì đã có nêu rõ về quy định đội mũ bảo hiểm với trẻ em: chỉ trẻ em dưới 6 tuổi là không cần đội mũ bảo hiểm, từ 6 tuổi trở lên đều phải được dùng mũ bảo hiểm và cài quai đúng cách. Theo như luật về đội mũ bảo hiểm đối với trẻ em đã nêu ở trên thì đối với các trường hợp trẻ em từ 6 tuổi trở lên không đội mũ bảo hiểm khi ngồi sau xe máy thì người điều khiển phương tiện giao thông đó sẽ bị phạt từ 100.000 – 200.000đ.

Theo nhiều báo cáo và nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì cứ 4 phút trôi qua trên thế giới sẽ có 1 trẻ em bị tử vong có nguyên nhân từ chấn thương vùng đầu khi tham gia giao thông và trong các trò chơi vận động. Riêng ở Việt Nam vào khoảng 2.000 trẻ em tử vong. Trẻ em chiếm gần 20% số lượng người tử vong trong tổng số người tử vong do tai nạn giao thông mỗi năm.

Trong thực tế thì đa số cha mẹ, các bậc phụ huynh đều không quá quan tâm đến vấn đề này lắm vì cho rằng con còn nhỏ thì không cần. Thực trạng này chủ yếu xuất phát từ tâm lý dùng mũ bảo hiểm để đối phó với các cơ quan chức năng hơn là từ nhận thức đảm bảo an toàn cho bản thân và người cùng tham gia giao thông.

Nhận thức được tầm quan trọng trong việc giáo dục cho trẻ em hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc đội mũ bảo hiểm, Luật sư tư vấn Công ty luật TNHH Giải Pháp Việt đã tổ chức hoạt động tuyên truyền và hướng dẫn đội mũ bảo hiểm đúng cách cho học sinh trường tiểu học Phan Văn Trị, Quận 1 vào ngày 7/10/2019. Thông qua đó, công ty luật TNHH Giải Pháp Việt cũng trao tặng 3.000.000 đồng cho Quỹ Khuyến học của trường.

Ms. Trần Kiêm Thanh Hà – Đại diện công ty luật TNHH Giải Pháp Việt trao tặng quỹ khuyến học cho trường Tiểu học Phan Văn Trị – Quận 1.

Một số lưu ý khi đội mũ bảo hiểm cho trẻ:

– Khi đội mũ cho trẻ là phải để phần vành mũ trước song song với chân mày, không bị lệch trái, lệch phải.

– Tiếp theo, phần quai mũ ôm sát phần thùy tai.

– Cuối cùng là cài quai đúng cách, quai không bị xoăn, bị ngược khi cài. Dây mũ nằm cố định, vừa khít dưới phần cằm, không bị lỏng lẻo hoặc siết quá chặt làm bé khó thở.

– Sau 3-6 tháng bạn cũng nên thay mũ bảo hiểm cho trẻ để vừa vặn với sự phát triển của cơ thể trẻ.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt