Hậu quả pháp lý khi không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn đã chia sẻ vấn đề liên quan đến các hoạt động xây dựng phải có chứng chỉ năng lực. Trong bài viết này, luật sư tư vấn nêu ra những hậu quả pháp lý khi cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng.

Trước hết, quý độc giả cần nắm rõ khái niệm “cá nhân, tổ chức” theo quy định của pháp luật xây dựng bao gồm những chủ thể nào?

Theo Khoản 9 Điều 3 Luật Xây dựng 2014 quy định: “Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng. Để tìm hiểu cụ thể hơn về từ ngữ “chủ đầu tư xây dựng”, quý độc giả tham khảo tại Điều 4 Nghị định 59/2015/NĐ-CP quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Ngoài ra, theo Khoản 28 Điều 3 Luật Xây dựng 2014 quy định: “Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng.”

Như vậy, “cá nhân, tổ chức” mà luật sư tư vấn hướng đến trong bài viết này chính là chủ đầu tư xây dựng và nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Hậu quả pháp lý khi không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng (Hình ảnh: Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt)

Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực xây dựng là gì?

Trong quá trình luật sư tư vấn cho các nhà đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu, chúng tôi nhận định: Theo Điều 12 Luật Xây dựng năm 2014 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực xây dựng, điều luật nêu rõ phạm vi liên quan đến Chủ đầu tư và nhà thầu: (i) Nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng; (ii) Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng. Do vậy, khi các bên vi phạm sẽ gặp những rủi ro pháp lý bất lợi, khó có thể lường trước được.

Vậy hậu quả pháp lý khi không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng là gì?

Theo nghiên cứu và phân tích của luật sư công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, những hậu quả pháp lý khi không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng mà chủ đầu tư và nhà thầu có thể gặp phải như sau:

Đối với Chủ đầu tư: Hợp đồng có thể sẽ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (vi phạm khoản 7 Điều 12 Luật Xây dựng) theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 và trong trường hợp có tranh chấp xảy ra dẫn đến hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,  hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khi đó, Chủ đầu tư sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo hướng dẫn tại Điều 7 Nghị định 139/2017/NĐ-CP với các biện pháp như:

– Phạt tiền từ 30-40 triệu đồng;

– Đình chỉ hoạt động xây dựng;

– Buộc lập lại kết quả khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế xây dựng công trình trong trường hợp dự án chưa khởi công hoặc đang thi công xây dựng hoặc buộc thực hiện kiểm định chất lượng công trình xây dựng trong trường hợp công trình đã kết thúc thi công hoặc đã nghiệm thu, bàn giao, đưa vào sử dụng;

Ngoài ra, đối với một số loại công trình theo Khoản 4 Điều 123 Luật Xây dựng, khi công trình hoàn thành, trước khi đưa vào sử dụng phải được thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu (Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước thực hiện theo phân cấp công trình) trong đó có nội dung kiểm tra năng lực nhà thầu (khoản 9 Mục I Phụ lục III về Danh mục hồ sơ hoàn thành công trình (phần hồ sơ chuẩn bị đầu tư xây dựng và hợp đồng) của Thông tư 26/2016/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 46/2015/NĐ-CP).

Nếu chủ đầu tư không đủ năng lực có thể dẫn tới việc không đáp ứng được danh mục hồ sơ hoàn thành công trình để làm cơ sở cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nêu trên xem xét chấp thuận nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng.

Đối với các Nhà thầu, ngoài việc phải đáp ứng về Chứng chỉ năng lực hoạt động, nhà thầu cần phải xem xét năng lực đáp ứng phù hợp theo loại, cấp công trình thực hiện. Hậu quả pháp lý đối với các nhà thầu khi không đáp ứng đủ điều kiện năng lực tham gia hoạt động xây dựng được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 23 Nghị định 139/2017/NĐ-CP như sau:

– Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng; và

– Đình chỉ hoạt động xây dựng từ 03-06 tháng nếu không đáp ứng điều kiện năng lực hoặc chứng chỉ năng lực hết hạn;

– Đình chỉ hoạt động xây dựng từ 06-12 tháng nếu không có chứng chỉ năng lực

Do vậy, các Chủ đầu tư, nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng cần quan tâm đến việc xin cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng.

Nhằm đem lại nhiều giải pháp tối ưu cho khách hàng, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã xây dựng đội ngũ Luật sư, Chuyên viên với trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp và tận tâm. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn bất động sản và xây dựng, Chúng tôi đã mang lại nhiều giải pháp thực tiễn cao nhất cho khách hàng. Tin chắc rằng khách hàng được hưởng nhiều lợi ích từ nguồn kiến thức sâu rộng mà đội ngũ luật sư cao cấp của chúng tôi tập trung vào. Tuỳ vào tình huống cụ thể mà chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn cao nhất cho khách hàng. Quý khách hàng chưa rõ, cần hỗ trợ vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Email: contact@lawsolutions.com.vn

Website: http://lawsolutions.com.vn/ 

Theo Chuyên viên pháp lý Từ Minh Thư – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các hoạt động xây dựng phải có chứng chỉ năng lực

Luật sư tư vấn các hoạt động xây dựng phải có chứng chỉ năng lực

Theo luật sư tư vấn đầu tư xây dựng, lĩnh vực xây dựng là một lĩnh vực đặc thù, phức tạp bởi tính rủi ro trong quá trình thực hiện. Vì vậy, pháp luật yêu cầu những cá nhân, tổ chức khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đều phải thi sát hạch và được cấp chứng chỉ năng lực hoạt động trong lĩnh vực xây dựng (gọi là chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng).

Vậy, các hoạt động xây dựng nào phải cần có chứng chỉ năng lực? Luật sư tư vấn Giải Pháp Việt xin chia sẻ một số thông tin đến quý độc giả.

Luật sư tư vấn cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng (Nguồn: Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt)
  • Hoạt động xây dựng đối với nhà thầu là tổ chức: Theo quy định tại khoản 19 Điều 1, Nghị định số 42/2017/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và khoản 20 Điều 1, Nghị định 100/2018/NĐ-CP ngày 16/7/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, các tổ chức (08 nhóm) khi tham gia hoạt động bắt buộc phải có chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng bao gồm:

– Lập quy hoạch xây dựng;

– Khảo sát xây dựng (bao gồm: Khảo sát địa hình; khảo sát địa chất);

– Thiết kế, thẩm tra thiết kế, bao gồm:

– Thiết kế kiến trúc;

– Thiết kế kết cấu (dân dụng – công nghiệp);

– Thiết kế cơ – điện (MEP);

– Thiết kế cấp – thoát nước công trình;

– Thiết kế xây dựng công trình giao thông;

– Thiết kế xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;

– Thiết kế xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật;

– Quản lý dự án đầu tư xây dựng;

– Thi công xây dựng công trình;

– Giám sát thi công xây dựng công trình;

– Kiểm định xây dựng;

– Quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Và để được cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng nêu trên thì Nhà thầu phải có những nhân sự phù hợp, có chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực xây dựng.

  • Ngoài ra, đối với cá nhân: Khi tham gia hoạt động xây dựng phải có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với công việc đảm nhận do các cơ sở đào tạo hợp pháp cấp.

Cụ thể, theo Điều 148 Luật Xây dựng, các chức danh (10 chức danh) sau đây khi đảm nhận công việc (hoặc khi hành nghề độc lập) bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề:

– Chủ trì thiết kế quy hoạch xây dựng;

– Chủ nhiệm khảo sát xây dựng;

– Chủ nhiệm, chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng;

– Giám đốc quản lý dự án;

– Các cá nhân trực tiếp tham gia quản lý dự án;

– Chỉ huy trưởng công trường;

– An toàn lao động;

– Giám sát thi công xây dựng;

– Kiểm định xây dựng;

– Định giá xây dựng.

  • Còn trường hợp đối với Ban quản lý dự án (PMU) trực thuộc Chủ đầu tư: Theo quy định tại Điều 54 Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng và khoản 31 Điều 11, Nghị định 100/2018/NĐ-CP bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện sau:

Giám đốc quản lý dự án phải đáp ứng điều kiện năng lực theo quy định bao gồm:

– Để quản lý các dự án các nhóm: Bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề hạng I và tương ứng với loại dự án được ghi trong chứng chỉ hành nghề.

– Để quản lý các dự án nhóm B, C: Bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề hạng II và tương ứng với loại dự án được ghi trong chứng chỉ hành nghề.

– Để quản lý các dự án nhóm C hoặc dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật: Bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề hạng III và tương ứng với loại dự án được ghi trong chứng chỉ hành nghề.

Ngoài ra, cá nhân phụ trách các lĩnh vực, chức danh (thuộc nhóm 10 chức danh phải cấp chứng chỉ) thì cũng phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô dự án, cấp công trình và công việc đảm nhận.

Nhằm đem lại nhiều giải pháp tối ưu cho khách hàng, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã xây dựng đội ngũ Luật sư, Chuyên viên với trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp và tận tâm. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn bất động sản và xây dựng, Chúng tôi đã mang lại nhiều giải pháp thực tiễn cao nhất cho khách hàng. Tin chắc rằng khách hàng được hưởng nhiều lợi ích từ nguồn kiến thức sâu rộng mà đội ngũ luật sư cao cấp của chúng tôi tập trung vào. Tuỳ vào tình huống cụ thể mà chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn cao nhất cho khách hàng. Quý khách hàng chưa rõ, cần hỗ trợ vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Email: contact@lawsolutions.com.vn

Website: http://lawsolutions.com.vn/ 

Theo Chuyên viên pháp lý Từ Minh Thư – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Hậu quả pháp lý khi không đủ điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng

Pate Minh Chay chứa độc tố – Xử lý vi phạm như thế nào?

Hiện nay tình trạng ngộ độc thực phẩm diễn ra phổ biến khiến người tiêu dùng vô cùng hoang mang, lo lắng về an toàn vệ sinh thực thẩm và nó trở thành mối nguy hại lớn đối với sức khỏe của cộng đồng. Vụ việc ngộ độc liên quan đến sản phẩm của cơ sở Pate Minh Chay khiến nhiều người lo lắng và đặt câu hỏi rằng ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho các nạn nhân trong trường hợp này.

Pate Minh Chay chứa độc tố – Xử lý vi phạm như thế nào? (Ảnh: Nguồn Internet)

Dưới góc độ pháp lý, Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì người tiêu dùng có quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

Đồng thời, theo quy định tại Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Tổ chức, cá nhân cung cấp thực phẩm mà gây ngộ độc phải chịu toàn bộ chi phí điều trị cho người bị ngộ độc và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự theo quy định tại khoản 5 Điều 53 Luật an toàn thực phẩm.

Trong đó, các chi phí bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; Bồi thường tổn thất tinh thần,… theo quy định tại Điều 590 BLDS.

Bên cạnh việc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho khách hàng, các cá nhân, tổ chức cung cấp thực phẩm dẫn tới tình trạng ngộ độc cho khách hàng còn phải chịu các chế tài xử phạt từ các cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ vào tính chất, mức độ gây thiệt hại của hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi thì các tổ chức, cá nhân này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính về an toàn thực phẩm hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật hình sự năm 2015.

Cụ thể, phạt tiền từ 80 – 100 triệu đồng đối với hành vi nhập khẩu, sản xuất, chế biến, cung cấp, bán thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 8 Điều 22 Nghị định 115/2018/NĐ-CP đối với hành vi quy định khác về bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp thực phẩm.

Ngoài ra buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như Buộc thu hồi và tiêu hủy  thực phẩm không đảm bảo; Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm theo quy định tại khoản 11 Điều luật này.

Trong trường hợp cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 – đến dưới 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng….; Cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng… thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 Bộ luật hình sự. Tùy từng tính chất mức độ có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng, phạt tủ từ 1 năm đến cao nhất là 20 năm tù.

Bên cạnh đó, trách nhiệm doanh nghiệp, nhà sản xuất, người kinh doanh khi đưa sản phẩm, hàng hóa ra thị trường cần phải thực hiện gì?

Điều đầu tiên, các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm cần nâng cao tính tự chủ, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến như GMP, VietGap, HACCP, ISO… nhằm tạo nguồn cung bảo đảm an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, các sản phẩm an toàn phải được kiểm soát tốt từ sản xuất đến lưu thông, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, không tồn dư hóa chất cấm sử dụng, hóa chất ngoài danh mục được phép sử dụng. Trong trường hợp, nếu xảy ra vấn đề doanh nghiệp cần có trách nhiệm cung cấp thông tin, cung cấp bằng chứng giao dịch, bảo vệ thông tin, trách nhiệm bên thứ ba, bồi thường thiệt hại, giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng.

Người tiêu dùng cũng không nên chủ quan và bỏ qua tiêu chí về chất lượng sản phẩm, đặc biệt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số lưu ý cho chúng ta trong dịp mua sắm:

Thứ nhất là thận trọng khi kiểm tra xuất xứ sản phẩm: Có rất nhiều mặt hàng kém chất lượng, vì vậy cần nên xem xét kĩ nhãn mác, bao bì trước khi mua. Tốt nhất nên mua ở những cửa hàng có uy tín, siêu thị hoặc những đại lý chính hãng để tránh được tình trạng mua phải hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Thứ hai, luôn cẩn thận kiểm tra hạn sử dụng của từng sản phẩm.

Thứ ba, khi phát hiện ra các hành vi an toàn thực phẩm cần báo cho cơ quan chức năng để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, tránh để việc hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng, mất an toàn thực phẩm trôi nổi trên thị trường./.

Với người tiêu dùng đã sử dụng sản phẩm, nếu có dấu hiệu bất thường về sức khỏe như trên cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được kiểm tra và theo dõi kịp thời.

Theo công ty TNHH Luật Giải Pháp Việt

Thể thức và cách trình bày văn bản thay thế Thông tư 01/2011/TT-BNV

(Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên) Việc trình bày văn bản hành chính đúng chuẩn được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư 01/2011/TT-BNV. Tuy nhiên, từ 05/3/2020, khi Nghị định 30/2020/NĐ-CP có hiệu lực đã thay đổi nhiều điểm trong thể thức và cách trình bày văn bản.

Thể thức và cách trình bày văn bản thay thế Thông tư 01/2011/TT-BNV

 

  1. Bắt buộc dùng phông chữ Times New Roman

Nếu như trước đây phông chữ sử dụng để trình bày văn bản trên máy vi tính là phông chữ tiếng Việt của bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001 thì hiện nay đã quy định cụ thể phông chữ phải là phông chữ tiếng Việt Times New Roman, bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001.

Cỡ chữ và kiểu chữ không có quy định chung mà phụ thuộc vào từng yếu tố thể thức.

  1. Chỉ sử dụng khổ giấy A4 cho tất cả các loại văn bản

Thay vì được phép trình bày văn bản hành chính trên khổ giấy A4 hoặc A5 (đối với giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển) thì hiện nay, tất cả các loại văn bản hành chính đều chỉ sử dụng chung khổ giấy A4 (210mm x 297mm).

Văn bản được trình bày theo chiều dài của khổ A4, trường hợp văn bản có các bảng, biểu nhưng không được làm thành phụ lục riêng thì có thể được trình bày theo chiều rộng.

  1. Thay đổi cách đánh số trang văn bản

Trước đây số trang văn bản được trình bày tại góc phải ở cuối trang giấy (phần footer) thì nay số trang văn bản được đặt canh giữa theo chiều ngang trong phần lề trên của văn bản, được đánh từ số 1, bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 13 đến 14, kiểu chữ đứng và cũng không hiển thị số trang thứ nhất.

  1. Phải ghi cả tên cơ quan chủ quản

Thông tư 01 loại trừ một số trường hợp không ghi cơ quan chủ quản thì nay quy định mới đã bãi bỏ các trường hợp loại trừ này.

Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản là tên chính thức, đầy đủ của cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước của người có thẩm quyền ban hành văn bản.

Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm: tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và tên cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp.

Đối với tên cơ quan chủ quản trực tiếp ở địa phương phải có thêm tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc quận, huyện, thị xã, thành phố hoặc xã, phường, thị trấn nơi cơ quan đóng trụ sở.

Được phép viết tắt những cụm từ thông dụng.

Tên cơ quan ban hành văn bản được trình bày chữ in hoa, cỡ chữ 12 tới 13, đứng, đậm, đặt canh giữa dưới tên cơ quan chủ quản trực tiếp. Trong đó, tên cơ quan chủ quản trực tiếp viết chữ in hoa, đứng, cỡ chữ 12 tới 13.

  1. Tên loại và trích yếu nội dung văn bản

Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành. Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản.

Tên loại và trích yếu được đặt canh giữa theo chiều ngang văn bản. Tên loại trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ 13 đến 14, đứng, đậm.

Trích yếu nội dung văn bản được đặt ngay dưới tên loại văn bản, chữ thường, cỡ 13 đến 14, đứng, đậm. Bên dưới có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ.

  1. Bổ sung yêu cầu trình bày căn cứ ban hành văn bản

Căn cứ ban hành văn bản ghi đầy đủ tên, loại văn bản, số, ký hiệu, cơ quan ban hành, ngày tháng năm ban hành và trích yếu nội dung văn bản (Luật và Pháp lệnh không ghi số, ký hiệu và cơ quan ban hành).

Căn cứ ban hành văn bản trình bày bằng chữ in thường, kiểu chữ nghiêng, cỡ chữ từ 13 đến 14, trình bày dưới phần tên loại và trích yếu  nội dung văn bản; sau đó mỗi căn cứ phải xuống dòng có dấu chấm phẩy, dòng cuối cùng kết thúc bằng dấu chấm.

  1. Chữ ký của người có thẩm quyền

Nghị định mới đã bổ sung chữ ký số của người có thẩm quyền.

Theo đó, hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dạng Portable Netwwork Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký.

  1. Dấu, chữ ký số của cơ quan, tổ chức

Dấu và chữ ký số là điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 30. Hình ảnh, vị trí chữ ký số của cơ quan, tổ chức là hình ảnh dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trên văn bản, màu đỏ, kích thước bằng kich thước thực tế của dấu, định dạng (.png) nền trong suốt, trùm lên khoảng 1/3 hình ảnh chữ ký số của người có thẩm quyền về bên trái.

Chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo văn bản chính thực hiện như sau:

– Văn bản kèm theo cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, chỉ thực hiện ký số văn bản và không ký số lên văn bản kèm theo;

– Văn bản không cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử phải thực hiện ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo. Vị trí: góc trên, bên phải, trang đầu của văn bản kèm theo.

  1. Bổ sung quy định về Phụ lục

Trường hợp văn bản có Phụ lục kèm theo thì trong văn bản phải có chỉ dẫn về Phụ lục đó. Văn bản có từ hai Phụ lục trở lên thì các Phụ lục phải được đánh số thứ tự bằng chữ số La Mã. Số trang của Phụ lục được đánh số riêng theo từng Phụ lục.

Thông tin chỉ dẫn kèm theo văn bản trên mỗi Phụ lục được ban hành bao gồm: số, ký hiệu văn bản, thời gian ban hành văn bản và tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản. Thông tin chỉ dẫn kèm theo văn bản được canh giữa phía dưới tên của Phụ lục, chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ nghiêng, cùng phông chữ với nội dung văn bản, màu đen.

Thông tin chỉ dẫn kèm theo văn bản trên mỗi phụ lục (Kèm theo văn bản số …/…-… ngày …. tháng ….năm ….) được ghi đầy đủ đối với văn bản giấy; đối với văn bản điện tử, không phải điền thông tin tại các vị trí này.

Đối với Phụ lục cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, Văn thư cơ quan chỉ thực hiện ký số văn bản và không thực hiện ký số lên Phụ lục.

Đối với Phụ lục không cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, Văn thư cơ quan thực hiện ký số của cơ quan, tổ chức trên từng tệp tin kèm theo.

Theo công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Lãi suất ngân hàng trong bối cảnh dịch Covid-19 – Đâu là giải pháp cho các doanh nghiệp?

(Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp) Trước tình hình dịch Covid – 19 vẫn đang diễn ra vô cùng phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, doanh thu giảm sút trầm trọng. Ngày 04/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 11/CT-TTg về nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid – 19. Cụ thể, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như: cơ cấu lại thời gian trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí,… đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Ngày 13/3/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng, doanh nghiệp trong mùa dịch. Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn doanh nghiệp Giải Pháp Việt chia sẻ kinh nghiệm về thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp - Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Doanh nghiệp được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Khoản 1, Điều 4 Thông tư 01/TT-NHNN

– Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính; Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid – 19; Doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Theo đó, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký;

Thứ hai, số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp quy định tại điểm thứ nhất) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 01 thì ngân hàng quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp và đánh giá của ngân hàng về khả năng trả nợ đầy đủ gốc và/hoặc lãi của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, phù hợp với mức độ ảnh hưởng của dịch Covid – 19, làm cơ sở để xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trình tự, thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ do ngân hàng quy định tại quy định nội bộ nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu theo Thông tư 01.

Doanh nghiệp được miễn, giảm lãi, phí

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid -19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Doanh nghiệp được giữ nguyên nhóm nợ

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/01/2020 đối với số dư nợ sau đây:

– Số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

– Số dư nợ được miễn, giảm lãi

– Số dư nợ quy định tại 2 điểm bên trên bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020

Như vậy, nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19 thì doanh nghiệp có thể gửi công văn đề nghị ngân hàng xem xét hỗ trợ. Tùy theo quy định nội bộ của từng ngân hàng mà sẽ có hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chuẩn bị các hồ sơ cần thiết như giấy đề nghị miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, báo cáo tài chính 6 tháng gần nhất, thuế giá trị gia tăng năm trước liền kề… để chứng minh được doanh thu của mình bị giảm sút và bị thiệt hại do dịch Covid – 19. Ngân hàng sẽ dựa trên hồ sơ doanh nghiệp cung cấp để có cơ sở thẩm định, xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tiến hành giảm lãi suất khoản vay.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 2)

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã phân tích về một số bất cập ngoại trừ trong điều kiện đối với đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những ngoại trừ về điều kiện của đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Khoản 3, Điều 18, Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014).

Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định các đối tượng bị cấm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (PVG) trong doanh nghiệp. Điều khoản này không trực tiếp nói đến việc cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng về bản chất một khi các đối tượng bị cấm góp vốn thì họ cũng sẽ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp và cấm góp thêm vốn điều lệ (VĐL) của doanh nghiệp đã được thành lập (Khoản 13 Điều 4 LDN 2014). Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm, trong đó, nhóm đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 được dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Như vậy, muốn biết rõ đối tượng nào bị cấm góp vốn theo điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 thì phải xem quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, cụ thể là khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng 2018: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ, chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước”. Điều khoản này quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm:

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Nhóm đầu tiên là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước. Lý do bởi vì họ đều là cán bộ, công chức nhà nước nên đối tượng này còn chịu sự điều chỉnh của khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Do đó, nhóm này không chỉ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà còn bị cấm góp vốn thành lập những doanh nghiệp khác. Nhưng nếu góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập thì nhóm này chỉ bị cấm đối với những doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà thôi.

Nhóm đối tượng thứ hai là vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước bị cấm kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước. Theo khoản 16 Điều 4 LDN 2014, kinh doanh được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”, theo đó nội hàm của “kinh doanh” sẽ bao gồm công đoạn “đầu tư”; mà công đoạn “đầu tư” lại bao gồm hoạt động “góp vốn” vì khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa về “đầu tư” như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Như vậy, “kinh doanh” mà khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đề cập cũng sẽ bao gồm cả hoạt động góp vốn. Hay nói cách khác vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu bị cấm kinh doanh thì cũng sẽ bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, bao gồm cả cấm góp vốn thành lập và cấm góp thêm VDL vào những doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, không giống như người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước được quy định minh thị tại điểm b khoản 2 Điều 18 LDN 2014 – quy định về các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp; nhóm đối tượng vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước tuy cũng bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp, nhưng lại không thấy nhắc đến tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Rõ ràng thiếu sót như thế sẽ tạo cách hiểu không thống nhất trong LDN 2014. Do đó, thiết nghĩ LDN 2014 cần bổ sung nhóm đối tượng này vào đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

 

Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật?

Những ngày vừa qua, thông tin một nhóm gồm phụ huynh có con đang học tại Trường Dân lập quốc tế Việt Úc bỗng dưng nhận được văn bản thông báo trường không tiếp nhận con mình trong năm học 2020 – 2021 đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi. Nguyên nhân điều này bắt nguồn từ việc nhà trường và một số phụ huynh không đạt được sự đồng thuận trong vấn đề học phí của học kỳ bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Quyết định này đã dấy lên làn sóng phẫn nộ của nhiều phụ huynh có con theo học tại trường này do lo ngại ảnh hưởng tới việc học cũng như tâm lý của các em. Trả lời phỏng vấn cho chương trình Chuyện nóng 24h trên SCTV4, Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã có những chia sẻ về quan điểm cá nhân. (Luật sư tư vấn)

Luật sư tư vấn – Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật? Nguồn hình ảnh: PV Mạnh Tùng (Vnexpress.net)

 

PV:  Thưa Luật sư, xin Luật sư cho biết, đối với vấn đề này hành xử của nhà trường đã đúng luật chưa? Vì sao?

Luật sư: Mâu thuẫn học phí giữa phụ huynh và nhà trường là mối quan hệ dân sự, việc ngưng tiếp nhận học sinh là một dạng đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo khoản 5 điều 402 Bộ Luật Dân sự 2015 đây là hợp đồng liên quan đến lợi ích của người thứ ba (tức là học sinh) nên nhà trường và phụ huynh phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền và lợi ích cho học sinh. 

Việc không tìm được tiếng nói chung giữa phụ huynh và nhà trường có nhiều cách để xử lý hơn là việc nhà trường ra thông báo ngưng tiếp nhận học sinh. Tôi cho rằng hành động này không tuân thủ các quy định của Luật giáo dục và Luật Bảo vệ trẻ em về các quyền được tôn trọng, quyền học tập của công dân, quyền bình đẳng về cơ hội giáo dục.

PV:  Ngoài góc độ thương mại, trường Việt Úc có phải tuân thủ Luật giáo dục hay không? Việc từ chối tiếp nhận học sinh đang theo học dù học sinh không vi phạm quy định trường có phải là hành vi phản giáo dục?

Luật sư: Việc đưa ra các quyết định của trường không chỉ thực hiện các quy định của doanh nghiệp mà còn cần phải tuân thủ theo quy định Luật Giáo dục, các Nghị định, Thông tư chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục. Tôi cho rằng hành động này đã không nghĩ đến quyền và lợi ích của các em học sinh, làm tổn thương sâu sắc đến tâm lý của học sinh.

PV: Theo Luật sư, trong trường hợp này cả phụ huynh và phía nhà trường cần làm gì để bảo vệ quyền lợi cho học sinh?

Luật sư: Trong trường hợp này, theo tôi việc đề nghị bên thứ 3 là Tòa án có thẩm quyền giải quyết là hướng mà cả hai bên nên hướng đến. Tuy nhiên, trong thời gian giải quyết tranh chấp và chưa có quyết định của Tòa án thì 2 bên nên tôn trọng và tuân thủ các thỏa thuận đã được ký kết trước đó. Vì mục đích cuối cùng chính là tìm được tiếng nói chung để thống nhất phương án giải quyết tốt nhất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho các em học sinh./.

Theo Luật sư tư vấn – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, về đối tượng được quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014), tuy nhiên Luật này cũng có quy định theo nguyên tắc loại trừ. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 LDN 2014.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, trong số các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp được liệt kê tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014, vẫn có ý kiến trái chiều xoay quanh đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý kiến này cho rằng, việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, bởi lẽ theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013: ”Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không hẳn sẽ bị tòa án tuyên có tội; đồng thời theo nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật hình sự thì trong giai đoạn truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này vẫn được xem là người vô tội. Vì là người vô tội nên họ cần có các quyền cơ bản như những công dân bình thường khác, bao gồm cả quyền tự do kinh doanh và quyền thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc LDN 2014 cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là chưa hợp lý và thậm chí còn mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013. Thiết nghĩ, cũng giống như quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN 2005, LDN 2014 nên đưa người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi quy định cấm thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp, họ bị tòa án tuyên bố có tội và buộc phải thi hành hình phạt tù thì họ có thể lựa chọn thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp bằng cách chuyển nhượng, tặng, cho phần vốn góp (PVG)/ cổ phần cho người khác có đủ điều kiện theo luật định; nếu không tiến hành thayd đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào khoản 20 Điều 1 Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 về “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 14//2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp để thu hồi Giấy CNĐKDN đối với trường hợp trên.  

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 cũng đề cập đến một loại giấy tờ mà LDN 2005 trước kia không yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp, đó là Phiếu lý lịch tư pháp. Theo quy định, khi có yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh (cơ quan ĐKKD), người thành lập doanh nghiệp phải nộp thêm phiếu lý lịch tư pháp kèm với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có văn bản nào của cơ quan lập pháp lý giải vì sao lại yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp và trong những trường hợp cụ thể nào cơ quan ĐKKD được quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp loại giấy tờ này. Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp, chúng tôi thiết nghĩ việc LDN 2014 quy định thêm về phiếu lý lịch tư pháp là nhằm mục đích hỗ trợ cơ quan ĐKKD trong việc xác định người thành lập doanh nghiệp có rơi vào các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 hay không. Tuy nhiên, nếu xem xét định nghĩa về phiếu lý lịch tư pháp quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì “Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhận chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản”. Như vậy, phiếu lý lịch tư pháp chỉ giúp loại trừ được đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp trong trường hợp trước đó doanh nghiệp của người này bị tuyên bố phá sản theo quyết định của tòa án mà thôi; ngoài ra, các trường hợp còn lại quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN2014 thì không thể dựa vào phiếu lý lịch tư pháp để xác định được. Quan trọng hơn cả, việc LDN 2014 quy định một cách chung chung, không nêu rõ trường hợp cụ thể nào người thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu này bị áp dụng một cách tùy nghi, mà bản thân người bị yêu cầu cũng không rõ lý do vì sao. Quy định về yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp so với LDN 2005 tuy mới nhưng suy cho cùng không mang lại hiệu quả như mong đợi, thay vào đó còn làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp trở nên rườm rà và thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp bị kéo dài hơn. Bởi lẽ, nếu bị yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp, thời hạn để doanh nghiệp hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp có thể bị kéo dài thêm 10 ngày so với thời hạn thông thường. Trong khi đó, theo chủ trương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sắp tới cần theo hướng đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp hơn nữa.

Để phù hợp với chủ trương của Bộ cũng như giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp, LDN 2014 nên bỏ yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với người thành lập doanh nghiệp. Hơn nữa, thực tế trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn nhận, nếu người thành lập doanh nghiệp rơi vào các trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp còn lại của khoản 2 Điều 18 LDN 2014 thì vốn dĩ cơ quan ĐKKD cũng chỉ có thể hậu kiểm, tức phát hiện hay kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy CNĐKDN, cho nên trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp do trước đó doanh nghiệp của người này bị tòa án tuyên bố phá sản cũng nên áp dụng tương tự như vậy./.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Quy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp tại Việt Nam

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp với những ưu điểm như tiết kiệm khá nhiều thời gian cho việc triển khai hoạt động kinh doanh, dễ dàng tiếp cận thị trường Việt Nam,… phương án đầu tư theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam đang được nhiều nhà đầu tư nước ngoài áp dụng khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Để nhà đầu tư có thể tiếp cận dễ dàng với hình thức đầu tư này, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ quy trình thực hiện cũng như những điểm lưu ý có liên quan đến hình thức đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam mà chúng tôi đã tích lũy được trong quá trình hỗ trợ cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp – QUy trình nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam

 

Để có thể tránh những rủi ro có thể phát sinh trong tương lai khi tiến hành thủ tục mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp cũng như đảm bảo thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật, theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, nhà đầu tư cần chú ý và thực hiện những nội dung sau:

Đầu tiên, nhà đầu tư cần kiểm tra, xác định nội dung hoạt động kinh doanh (hay ngành nghề kinh doanh) của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước đầu tiên để xác định nhà đầu tư có được quyền mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hoặc nếu được quyền mua thì tỉ lệ được sở hữu vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu phần trăm,….

Vấn đề thứ hai là cần kiểm tra một cách cẩn thận tình hình hoạt động và tài liệu pháp lý của doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định mua cổ phần, phần vốn góp. Đây là bước quan trọng nhất để nhà đầu tư xem xét và quyết định có mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp hay không? Ở bước này, nhà đầu tư cần thực hiện các hoạt động như kiểm tra tài liệu pháp lý của doanh nghiệp, tiến hành kiểm toán đối với doanh nghiệp, thực hiện việc thẩm định giá để xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp… từ đó nhà đầu tư mới có thể xác định giá trị chuyển nhượng phù hợp.

Tiếp đến, nhà đầu tư cần làm là xác định quy trình thực hiện các thủ tục pháp lý để hoàn thành việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư và lên kế hoạch chi tiết thực hiện. Sau đó, nhà đầu tư cần tiến hành thực hiện các thủ tục cần thiết để hoàn tất việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, đồng thời tiến hành thay đổi các giấy phép khác của doanh nghiệp sau khi hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng (nếu có).

Theo đó, tùy vào trường hợp cụ thể đối với từng nhà đầu tư nước ngoài cần lựa chọn trình tự và triển khai các nội dung một cách linh hoạt, phù hợp theo các điều kiện tương ứng theo quy định pháp luật. Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu hỗ trợ tư vấn và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến việc triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam, xin vui lòng đề xuất qua email contact@lawsolutions.com.vn.

Theo Chuyên viên pháp lý Nguyễn Văn Hiệp

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014): “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ (VĐL) của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập”. Như vậy, bước đầu LDN 2014 đưa ra định nghĩa chung về “góp vốn”, sau đó chia “góp vốn” thành hai trường hợp

  • Góp vốn để thành lập doanh nghiệp
  • Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập.

Mặc dù, hai trường hợp góp vốn này không được định nghĩa chính thức trong LDN 2014, nhưng dựa vào một số quy định liên quan, luật sư tư vấn doanh nghiệp có thể phân tích như sau:

Góp vốn để thành lập doanh nghiệp: Là trường hợp cá nhân, tổ chức góp tài sản theo cam kết nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp. Cam kết này hình thành trước khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN), hay có thể hiểu theo cách khác cam kết hình thành trước khi doanh nghiệp chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý và tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức trong giai đoạn này sẽ tạo thành VĐL ban đầu để doanh nghiệp hoạt động.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập: là trường hợp cá nhân, tổ chức tiến hành góp tài sản để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn của họ được hình thành khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, tức là sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNDDKDN. Tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức không tạo lập nên VĐL ban đầu cho doanh nghiệp mà những tài sản này sẽ làm gia tăng VĐL sẵn có của doanh nghiệp.

Nếu chỉ giới hạn khái niệm “góp vốn” ở hai trường hợp nêu trên thì quả thực khoản 13 Điều 4 LDN 2014 liệt kê chưa đầy đủ các trường hợp góp vốn. Trên thực tế, trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, chúng tôi thấy rõ việc các trường hợp cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG hoàn toàn không có hành vi trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp; thậm chí PVG mà họ được thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ, nhận chuyển nhượng cũng không nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp hay làm tăng thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập. Có nghĩa, việc sở hữu PVG cả cá nhân, tổ chức này không thuộc hai trường hợp góp vốn được liệt kê tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014. Thế nhưng, điều này không thể phủ nhận việc họ góp vốn vào doanh nghiệp . Tại sao chúng tôi lại ghi nhận như thế? Vì khi xét đến định nghĩa chung về góp vốn tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014 thì cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG vẫn sở hữu PVG tạo thành VĐL của doanh nghiệp, họ vẫn được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do vậy, về bản chất, những đối tượng này vẫn có hành vi góp vốn một cách “gián tiếp” cho dù không thực hiện hai hành vi góp vốn quy định tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014.

Từ những điểm bất cập nêu trên, luật sư tư vấn doanh nghiệp thiết nghĩ khoản 13 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về “góp vốn” theo cách thức liệt kê là chưa thực sự hợp lý. Khoản 13 Điều 4 LDN 2014 nên lược bỏ quy định liệt kê hai hành vi góp vốn là: (1) Góp vốn để thành lập doanh nghiệp và (2) Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập; thay vào chỉ nên giữ lại phần định nghĩa chung về “góp vốn”. Với cách quy định khái quát, nêu rõ bản chất của “góp vốn” là gì, sẽ giúp quy định của LDN 2014 ổn định hơn và bao quát tất cả các trường hợp góp vốn hiện còn bỏ sót, kể cả những trường hợp góp vốn có thể sẽ phát sinh dưới những hình thái khác trong tương lai./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt