Luật sư tư vấn đất đai những vấn đề cơ bản về tách thửa đất

Trong qua trình luật sư tư vấn đất đai, chúng tôi gặp không ít trường hợp liên quan đến quy định vấn đề về tách thửa đất. Trên thực tế, tách thửa đất là gì và mục đích của việc tách thửa đất được hiểu như thế nào, bài viết dưới dây, luật sư tư vấn chia sẻ một số thông tin tích lũy được trong quá trình tư vấn pháp lý thường xuyên.

Luật sư tư vấn đất đai những vấn đề chung về tách thửa đất

Tách thửa đất là một trường hợp cụ thể về biến động đất đai trong quá trình sử dụng đất. Thuật ngữ “tách thửa đất” đối lập với thuật ngữ “sáp nhập thửa đất”. Theo ngôn ngữ tiếng Việt “Tách: Làm cho rời hẳn ra khỏi một khối, một chỉnh thể”; trong khi đó, “Nhập: Gộp lại, hợp nhất làm một”. Thuật ngữ “tách thửa đất” được sử dụng khá thông dụng trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành song tại Điều 3 giải thích từ ngữ của đạo Luật này lại không đưa ra cách hiểu chính thức như thế nào là tách thửa đất. Dựa vào cách hiểu của ngôn ngữ tiếng Việt của luật sư tư vấn đất đai và nội dung các quy định của pháp luật đất đai hiện hành về quá trình tách thửa đất có thể hiểu về khái niệm tách thửa đất như sau: Tách thửa đất là quá trình phân chia quyền chiếm hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng đất từ một người đứng tên chủ sử dụng một mảnh đất cụ thể sang nhiều đối tượng sử dụng đất khác nhau dựa trên sự tự nguyện, thỏa thuận và tuân thủ các quy định của pháp luật. Tách thửa đất có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Theo nhận định của luật sư tư vấn đất đai, hậu quả của việc tách thửa đất là sau khi thực hiện việc tách thửa thì một mảnh đất được phân chia thành ít nhất hai mảnh đất có diện tích nhỏ hơn diện tích đất ban đầu. Đồng thời, mảnh đất có một chủ sử dụng chuyển thành hai hay nhiều chủ sử dụng các thửa đất khác nhau.

Bên cạnh đó, việc tách thửa đất dựa trên sự tự nguyện của người sử dụng đất và thỏa thuận giữa họ với người nhận phần đất được tách thửa. Có nghĩa là việc tách thửa đất có thực hiện được hay không thì trước hết phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng đất. Họ có mong muốn tách thửa đất hay không. Mong muốn này được thể hiện thông qua đơn xin tách thửa đất đứng tên người sử dụng đất. Hơn nữa, việc tách thửa đất còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người sử dụng đất và những người nhận phần đất được tách thửa. Những người này có đồng ý đứng tên đối với phần đất sau khi được thách thửa đất hay không.

Điểm lưu ý thứ ba, đối tượng của việc tách thửa đất là một thửa đất cụ thể được xác định rõ ràng diện tích, ranh giới, mục đích sử dụng đất và chủ sử dụng đất v.v. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013: “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ”.

Đặc điểm cơ bản thứ tư, theo đó luật sư tư vấn đất đai chia sẻ, việc tách thửa đất phải tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai về trình tự, thủ tục tách thửa đất. Điều này có nghĩa là tách thửa đất không phải là việc làm tùy tiện, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng đất mà phải tuân thủ pháp luật về trình tự, thủ tục tách thửa đất. Người sử dụng đất có nhu cầu tách thửa đất phải làm đơn xin tách thửa đất, hồ sơ tách thửa đất gồm đầy đủ các giấy tờ theo quy định; tuân thủ các quy định về điều kiện, thẩm quyền, các bước thực hiện việc tách thửa đất và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi tách thửa đất do pháp luật quy định…

Cuối cùng, sau khi thực hiện việc tách thửa đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chỉnh lý hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính, sổ sách địa chính và hiệu chỉnh lại các thông tin, số liệu về thửa đất cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất; thực tế sử dụng đất v.v.

Như vậy, mục đích của việc tách thửa đất là gì? Luật sư tư vấn đất đai chia làm hai trường hợp: Đối với người sử dụng đất và đối với Nhà nước.

Thứ nhất, đối với người sử dụng đất: Tách thửa đất là kết quả của việc người sử dụng đất thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất (QSDĐ); chuyển nhượng QSDĐ; thừa kế QSDĐ. Theo đó, khi người sử dụng đất tự nguyện chuyển giao một phần diện tích đất mà mình đứng tên chủ sử dụng sang cho người khác chiếm hữu, quản lý và sử dụng thì phải thực hiện việc tác thửa đất. Mục đích của hoạt động này nhằm phân định rõ ranh giới, mốc giới, diện tích, hình thể của từng mảnh đất đối với các chủ sử dụng đất khác nhau, ngăn ngừa tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai có thể xảy ra. Hơn nữa, tách thửa đất còn tạo điều kiện để người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ do pháp luật đất đai quy định đối với mảnh đất mình đứng tên chủ sử dụng và góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự về QSDĐ phát triển.

Thứ hai, đối với Nhà nước: Tách thửa đất là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Nó khẳng định vai trò và vị trí của Nhà nước về quản lý đối với đất đai. Thông qua hoạt động tách thửa đất, Nhà nước nắm bắt được kịp thời hiện trạng sử dụng đất, mọi biến động trong quá trình sử dụng đất đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất cụ thể. Trên cơ sở tách thửa đất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính, sổ sách địa chính và hệ thống thông tin đất đai phù hợp với thực tế sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Mặt khác, việc thực hiện tách thửa đất, động viên nguồn thu từ đất đai vào ngân sách nhà nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ tài chính như lệ phí đo vẽ, lệ phí địa chính cấp GCNQSDĐ và nộp tiền sử dụng đất … của người sử dụng đất.

Trên đây là một số nội dung luật sư tư vấn đất đai những vấn đề cơ bản về tách thửa đất. Trường hợp nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong phần tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới

Email: contact@lawsolutions.com.vn  

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117. 

Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn đất đai thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất ruộng thành đất ở

Kính chào Luật sư tư vấn đất đai công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, tôi có một thửa ruộng cạnh nhà. Gia đình tôi đã lấp một phần để trồng rau, nuôi gà và một phần đào ao thả cá từ 10 năm trước. Tôi muốn chuyển đổi thành đất ở có được không và thủ tục như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp. Xin cảm ơn. (Anh Hữu Bình, Thuận An – Bình Dương).

Luật sư tư vấn đất đai: Kính chào anh Bình, cảm ơn anh đã gửi câu hỏi về cho luật sư tư vấn. Đối với câu hỏi của anh, Chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ tại Điểm a, d Khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai 2013 có quy định về các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

– Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

– Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.

Như vậy, trường hợp muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa nước…sang đất ở thì cần phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại Khoản 1 Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là “kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”.

Vì thế, việc chuyển mục đích đất trồng lúa sang đất ở phải cần có quy hoạch sử dụng đất mà đã có kế hoạch sử dụng đất buộc chuyển đổi thì mới được chuyển đổi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước. Theo đó, muốn biết thửa đất có được phép chuyển mục đích sử dụng đất hay không còn phải phụ thuộc vào các điều kiện đã nêu ở trên.

Luật sư tư vấn đất đai

Về trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 69 Nghị định 43/2014/NĐ-CP sửa đổi bổ sung NĐ 01/2017/NĐ- CP và được hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMTquy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hồ sơ gồm:

+ Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này;

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Luật sư tư vấn đất đai về hồ sơ trình UBND cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm:

a) Các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Biên bản xác minh thực địa;

c) Bản sao bản thuyết minh dự án đầu tư đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; bản sao báo cáo kinh tế – kỹ thuật của tổ chức sử dụng đất đối với trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình; văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất; thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã lập khi cấp giấy chứng nhận đầu tư hoặc thẩm định dự án đầu tư hoặc xét duyệt dự án đối với dự án phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, phải cấp giấy chứng nhận đầu tư;

d) Văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư và trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải bổ sung văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 59 của Luật Đất đai;

đ) Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất;

e) Tờ trình kèm theo dự thảo quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật sư tư vấn đất đai về vấn đề mà anh Bình đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong phần tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ Email: contact@lawsolutions.com.vn hoặc Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn nội bộ về lao động chấm dứt hợp đồng xác định thời hạn

Kính chào luật sư tư vấn nội bộ về lao động công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, đơn vị tôi đang công tác là đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị có ký hợp đồng lao động xác định thời hạn đối với người lao động  với thời hạn hợp đồng là 12 tháng, từ ngày 10/9/2018 đến ngày 09/9/2019, nhưng trước thời điểm chấm dứt hợp đồng (09/9/2019), Chúng tôi không thông báo cho người lao động biết trước về việc chấm dứt hợp đồng theo quy định (theo quy định thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động thời điểm chấm dứt ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động hết hạn).

Dù không thông báo cho người lao động nhưng thực tế khi hết thời hạn hợp đồng đơn vị đã chính thức chấm dứt hợp đồng với người lao động, đồng thời người lao động cũng không còn làm việc do đơn vị không phân công công việc cho người lao động. Ngoài ra có một vấn đề là sau khi hợp đồng lao động kết thúc Chúng tôi đã trả lương cho người lao động nhiều hơn 1 tháng lương so với thời hạn của hợp đồng lao động đã ký.

Tuy nhiên, phía người lao động đã dựa vào việc đơn vị không thông báo chấm dứt hợp đồng theo thời hạn luật định đã cho rằng hợp đồng lao động hết hạn nói trên đã tự động trở thành hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định. Đồng thời người lao động cho rằng nếu đơn vị không tiếp tục hợp đồng thì sẽ khởi kiện để đòi giải quyết quyền lợi và lợi ích hợp pháp do đơn vị đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. 

Xin luật sư tư vấn nội bộ về lao động giúp dùm ạ. (Chị TB, Quận Thủ Đức).

Luật sư tư vấn nội bộ về lao động

Luật sư tư vấn: Kính chào chị. Theo như thông tin mà chị đã cung cấp cho luật sư tư vấn nội bộ về lao động, Chúng tôi đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

– Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 2, Điều 22 Bộ luật lao động 2012 thì khi hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới, nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Tuy nhiên theo như thông tin chị cung cấp thì trước thời điểm hợp đồng lao động hết thời hạn (09/9/2019) thì thực tế đơn vị không còn phân công công việc cho người lao động, đồng thời người lao động cũng không còn làm việc tại trường cho đến nay. Chính vì vậy việc người lao động cho rằng hợp đồng lao động đã ký với đơn vị của chị đã trở thành hợp đồng không xác định thời hạn là không có cơ sở bởi vì thực tế hợp đồng đã ký đã hết hạn và kể từ thời điểm hết hạn người lao động đã không còn làm việc tại đơn vị nữa. 

– Thứ hai, việc đơn vị của chị không báo trước bằng văn bản cho người lao động theo quy định tại Khoản 1, Điều 47 Bộ luật lao động 2012 thì đơn vị đã vi phạm quy định về việc thực hiện hợp đồng lao động. Trong trường hợp vi phạm quy định này thì đơn vị có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính cho hành vi không thông báo bằng văn bản cho người lao động biết trước ít nhất 15 ngày, trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn với hình thức xử phạt là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (theo quy định tại Khoản 1, Điều 7 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013).

– Thứ ba, để người lao động biết rõ về việc hợp đồng lao động đã chấm dứt do hết thời hạn cũng như để tránh những vấn đề phát sinh không đáng có trong tương lai, đơn vị nên chủ động gửi thông báo cho người lao động về việc này để người lao động nắm rõ tình trạng hợp đồng lao động nói trên đã chấm dứt do hết thời hạn và thực hiện. Đồng thời, số tiền mà đơn vị đã trả cho người lao động nhiều hơn so với thời hạn hợp đồng đã ký (nếu có) thì tại thông báo cho người lao động nên đề nghị người lao động phải hoàn trả lại cho đơn vị của chị do bộ phận kế toán đã có sự nhầm lẫn trong việc tính toán và chi trả lương theo hợp đồng đã ký. 

Trên đây là những ý kiến luật sư tư vấn nội bộ về lao động theo như trình bày của chị. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào về nội dung này xin vui lòng phản hồi để chúng tôi hỗ trợ. Trân trọng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Luật sư tư vấn gia hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của Virut Corona (Covid-19) gây ra đang diễn biến phức tạp, khó lường. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp bị thiệt hại lớn, gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, không có khả năng nộp thuế đúng hạn. Để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế bị thiệt hại bởi dịch bệnh Covid-19 gây ra, góp phần giúp cho người nộp thuế ổn định sản xuất kinh doanh, vượt qua khó khăn; Tổng cục Thuế ban hành công văn số 897/TCT-QLN đề nghị đồng chí Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai việc thực hiện gia hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp cho người nộp thuế theo các quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hiện nay, pháp luật quy định trường hợp nào được gia hạn nộp thuế?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính (văn bản hợp nhất 14/VBHN-BTC ngày 15/5/2017) quy định trường hợp được gia hạn nộp thuế như sau:

“a) Bị thiệt hại vật chất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh do gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ.

Thiệt hại vật chất là những tổn thất về tài sản của người nộp thuế, tính được bằng tiền như: máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hóa, nhà xưởng, trụ sở làm việc, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền.

Tai nạn bất ngờ là việc không may xảy ra đột ngột ngoài ý muốn của người nộp thuế, do tác nhân bên ngoài gây ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không phải do nguyên nhân từ hành vi vi phạm pháp luật. Những trường hợp được coi là tai nạn bất ngờ bao gồm: tai nạn giao thông; tai nạn lao động; mắc bệnh hiểm nghèo; bị dịch bệnh truyền nhiễm vào thời gian và tại những vùng mà cơ quan có thẩm quyền đã công bố có dịch bệnh truyền nhiễm; các trường hợp bất khả kháng khác.”

Nguồn: Internet

Để được gia hạn nộp thuế, người nộp thuế phải lập và gửi hồ sơ đề nghị gia hạn nộp thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế. Hồ sơ sẽ bao gồm:

  • Văn bản đề nghị gia hạn nộp thuế của người nộp thuế theo mẫu.
  • Biên bản kiểm kê, đánh giá giá trị vật chất thiệt hại do người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế lập;
  • Văn bản xác nhận về việc người nộp thuế có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời gian xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ của một trong các cơ quan, tổ chức sau: cơ quan công an; UBND cấp xã, phường; Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn;
  • Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (bản sao có công chứng hoặc chứng thực nếu có); hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (bản sao có công chứng hoặc chứng thực nếu có). Đối với người nộp thuế là pháp nhân thì các tài liệu nêu trên phải là bản chính hoặc bản sao có chữ ký của người đại diện theo pháp luật, đóng dấu của đơn vị.

Theo Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính, người nộp thuế có quyền đề nghị miễn tiền chậm nộp trong trường hợp gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo hoặc trường hợp bất khả kháng khác. Hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp gồm:

  • Văn bản đề nghị miễn tiền chậm nộp của người nộp thuế, trong đó có các nội dung chủ yếu sau: tên, mã số thuế, địa chỉ của người nộp thuế; căn cứ đề nghị xử lý miễn tiền chậm nộp; số tiền chậm nộp đề nghị miễn;
  • Tùy từng trường hợp, hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp phải bổ sung các tài liệu khác.
  • Chẳng hạn, Trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, phải có Biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền như Hội đồng định giá do Sở Tài chính thành lập, hoặc các công ty định giá chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ định giá theo hợp đồng, hoặc Trung tâm định giá của Sở Tài chính;
  • Ngoài ra, phải có văn bản xác nhận về việc người nộp thuế có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh của một trong các cơ quan, tổ chức sau: công an cấp xã, phường hoặc UBND cấp xã, phường, Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn;
  • Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (nếu có);
  • Hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).
Nguồn: Internet

Trường hợp các nhà hàng, cửa hàng ngừng kinh doanh nhưng không thực hiện thủ tục thông báo tới cơ quan thuế hoặc trong thời gian dịch bệnh vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh thì có thể làm văn bản đề nghị miễn giảm thuế tới Cơ quan thuế để được xem xét giảm thuế dựa trên mức độ thiệt hại.

Đứng trước tình hình dịch bệnh hiện nay, để giảm thiểu mức độ thiệt hại, ngoài sự chủ động của chính các hộ kinh doanh, cơ quan thuế cũng cần chủ động tính lại mức thuế khoán cho hộ kinh doanh để đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế.

Theo đó, nếu qua số liệu xác minh, kiểm tra có căn cứ xác định doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên so với mức doanh thu đã khoán, cơ quan thuế cần phải kịp thời xác định lại doanh thu khoán để áp dụng cho thời gian còn lại của năm tính thuế.

Từ khi dịch bệnh bùng phát tính từ tháng 1 đến nay đã có một lượng lớn các doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản. Các doanh nghiệp khác cũng phải “gồng mình” để tồn tại trước những khó khăn “doanh thu thấp, chi phí lớn”, tình hình sản xuất kinh doanh bị trì trệ, đóng băng trong khoảng thời gian khá dài.

Vì vậy, ngoài Công văn số 897/TCT-QLN của Tổng cục Thuế về việc gia hạn nộp thuế, miễn tiền chậm nộp do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 cho các doanh nghiệp, luật sư tư vấn cho rằng, cần phải có thêm những gói chính sách hỗ trợ, miễn tiền thuê đất và giảm các khoản thuế, lệ phí cụ thể để hỗ trợ các doanh nghiệp, chia sẻ khó khăn với người nộp thuế.

Ví dụ như xem xét, hỗ trợ giảm tiền thuê đất phải nộp trong 2 năm 2020 – 2022; giảm thuế nhập khẩu; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; giảm tiền đóng bảo hiểm xã hội…”.

Theo công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Luật sư tư vấn cách đóng dấu văn bản chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Từ ngày 05/3/2020, cách đóng dấu văn bản hành chính sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định 30/2020/NĐ-CP. Trong bài viết này, Luật sư tư vấn chia sẻ nội dung liên quan đến quy định về đóng dấu trong văn bản hành chính.

Luật sư tư vấn cách đóng dấu văn bản chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Đối với văn bản giấy: Dù là dấu chữ ký, dấu treo hay dấu giáp lai thì khi đóng dấu cũng phải đáp ứng yêu cầu sau:

– Đóng phải rõ ràng, ngay ngắn;

– Đóng đúng chiều;

– Dùng đúng mực dấu màu đỏ theo quy định.

Dấu chữ ký

Khi đóng dấu lên chữ ký, dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.

Dấu treo

Dấu treo thường được đóng trên các văn bản ban hành kèm theo văn bản chính hoặc phụ lục.

Dấu được đóng lên trang đầu, trùm một phần tên cơ quan, tổ chức hoặc tiêu đề phụ lục.

Dấu giáp lai

– Dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy;

– Mỗi dấu đóng tối đa 05 tờ văn bản.

Ngoài ra, việc đóng dấu treo, dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản giấy do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định.

Đối với văn bản điện tử

– Dấu của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử (chữ ký số của cơ quan, tổ chức) là hình ảnh dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trên văn bản, màu đỏ, kích thước bằng kích thước thực tế của dấu, định dạng (.png) nền trong suốt, trùm lên khoảng 1/3 hình ảnh chữ ký số của người có thẩm quyền về bên trái.

– Dấu trên văn bản kèm theo văn bản chính được thể hiện như sau:

+ Văn bản kèm theo cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, chỉ thực hiện ký số văn bản và không thực hiện ký số lên văn bản kèm theo;

+ Văn bản không cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, phải ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo (nhưng không hiển thị hình ảnh) tại góc trên, bên phải, trang đầu của văn bản kèm theo.

Ngoài ra, thể thức và cách trình bày văn bản cũng được áp dụng theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP từ 05/3/2020 với nhiều điểm mới.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan: 

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Theo Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định 30/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/3/2020. Trong bài viết này, Luật sư tư vấn chia sẻ nội dung liên quan đến quy định về ký tên văn bản hành chính.

Thẩm quyền ký ban hành văn bản: Tùy thuộc vào mô hình hoạt động của cơ quan, tổ chức và tình hình thực tế mà thẩm quyền ký văn bản có khác nhau.

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính

Đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng:

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành.

– Có thể giao cấp phó ký thay các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu.

Đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ tập thể:

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thay mặt tập thể lãnh đạo ký các văn bản của cơ quan, tổ chức.

– Cấp phó của người đứng đầu được thay mặt tập thể, ký thay người đứng đầu những văn bản theo ủy quyền của người đứng đầu và những văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách…

Cách ghi quyền hạn của người ký:

– Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM.” vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức.

– Tương tự, trường hợp được giao quyền cấp trưởng thì phải ghi chữ viết tắt “Q.” vào trước; ký thay người đứng đầu ghi chữ viết tắt “KT.” vào trước

– Trường hợp cấp phó được giao phụ trách hoặc điều hành thì thực hiện ký như cấp phó ký thay cấp trưởng.

– Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” Vào trước; ký thừa ủy quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

 Cách ghi chức vụ, chức danh và họ tên của người ký

– Chức vụ ghi trên văn bản là chức vụ lãnh đạo chính thức của người ký; không ghi những chức mà Nhà nước không quy định.

– Chức danh ghi trên văn bản do các tổ chức tư vấn ban hành là chức danh lãnh đạo của người ký văn bản trong tổ chức tư vấn;

– Họ và tên người ký văn bản bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản. Trước họ tên của người ký, không ghi học hàm, học vụ và các danh hiệu danh dự khác;

– Việc ghi thêm quân hàm, học hàm, học vị trước họ tên người ký đối với văn bản của các đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học do người đứng đầu cơ quản quản lý ngành, lĩnh vực quy định.

Chữ ký tên văn bản giấy: Khi ký tên trên văn bản giấy phải dùng bút có mực màu xanh, không dùng các loại mực dễ phai.

Chữ ký trên văn bản điện tử

– Đối với văn bản điện tử, người có thẩm quyền thực hiện chữ ký số.

– Hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dang Portable Network Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Nghỉ việc do virus Corona: NLĐ được trả lương hay không?

Trong trường hợp dịch bệnh viêm phổi cấp vì virus corona đang diễn biến ngày càng phức tạp không ít các doanh nghiệp đã chủ động cho người lao động nghỉ việc nhằm phòng tránh lây lan. Nếu doanh nghiệp cho toàn bộ nhân viên ngừng việc để phòng ngừa bệnh viêm phổi do virus Corona gây ra thì có phải trả lương cho người lao động hay không?

Về vấn đề này, Luật sư tư vấn Công ty TNHH Giải Pháp Việt giải đáp như sau:

Tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2012 có quy định như sau:

“Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.”

Tại quy định Khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2012 có đề cập đến trường hợp nếu vì nguyên nhân là dịch bệnh người lao động sẽ được hưởng lương. Tuy nhiên trường hợp này chỉ áp dụng khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước về việc các doanh nghiệp phải cho người lao động tạm ngừng làm việc. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp cho toàn bộ nhân viên ngừng việc để phòng ngừa bệnh viêm phổi do virus Corona gây ra thì cần phải trả lương cho người lao động theo quy định nêu trên (mức cụ thể do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định).

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn vào doanh nghiệp và hậu quả pháp lý khi vi phạm

Trong quá trình luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014, cơ sở chủ yếu để xác định các nhà đầu tư vi phạm nghĩa vụ góp vốn đó là dựa vào số vốn đã cam kết góp và thời hạn góp vốn đối với thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH, thành viên Công ty hợp danh; dựa vào số cổ phần đã đăng ký mua và thời hạn thanh toán đủ số cổ phần này đối với cổ đông Công ty cổ phần. Vì vậy, các chủ thể có nghĩa vụ phải góp đúng và đủ số vốn đã cam kết, thanh toán đủ và đúng hạn số cổ phần đăng ký mua. Nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như thế nào? Dưới đây là một số phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn và hậu quả pháp lý khi vi phạm.

Luật sư tu vấn nghĩa vụ góp vốn (Nguồn: Internet)

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty TNHH

Đối với Công ty TNHH 2 thành viên, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thành viên công ty phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn vào doanh nghiệp. Trong thời hạn này, họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà vẫn có thành viên chưa góp vốn theo cam kết thì họ đương nhiên không còn là thành viên của công ty, nếu thành viên chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết thì họ chỉ có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp. Phần vốn góp chưa góp của các thành viên sẽ được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên. Đây là quy định hợp lý của Luật Doanh nghiệp 2014 nhằm giải quyết hiệu quả bất cập của Luật Doanh nghiệp 2005 khi không quy định rõ thành viên đã góp một phần vốn theo cam kết có đương nhiên mất tư cách thành viên công ty hay không? Nếu mất tư cách thành viên thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ có được điều chỉnh tương ứng với phần vốn góp? Ví dụ sau đây thể hiện rõ điều đó:

Ông S. là thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Phong Sơn. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì ông S. có số vốn góp là 1 tỷ đồng, chiếm 25% vốn điều lệ của công ty. Nhưng ông S trên thực tế mới góp được 200 triệu đồng, số tiền còn lại được coi là khoản nợ của ông S đối với công ty. Công ty kinh doanh có lãi và tiến hành chia lợi nhuận. Ông S. được HĐTV công ty quyết định chia lợi nhuận trên số vốn góp đăng ký là 1 tỷ đồng. Một thành viên khác của công ty không đồng ý với quyết định trên đã khởi kiện ra tòa án vì cho rằng ông S. chỉ được chia lợi nhuận trên số vốn góp là 200 triệu.

Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định cụ thể trong trường hợp trên quyền lợi của ông S. được giải quyết như thế nào, căn cứ vào số vốn đăng ký hay số vốn thực tế góp? Với Luật Doanh nghiệp 2014 thì trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ông S. có quyền lợi tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp là 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà ông S. không góp đủ số vốn đã cam kết thì quyền lợi của ông chỉ tương ứng với số vốn đã góp là 200 triệu đồng.

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp 2014 còn ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Công ty TNHH 2 thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.

Đối với Công ty TNHH 1 thành viên, Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết. Nếu vi phạm, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể hiện sự “phá hạn trách nhiệm” với các quy định được thể hiện dưới dạng quyền đòi đền bù thiệt hại của chủ nợ. Trách nhiệm của chủ sở hữu công ty là hữu hạn trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Tuy nhiên, nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Quy định này góp phần bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, hạn chế hành vi lạm dụng tính chịu trách nhiệm hữu hạn để lừa đảo, chiếm dụng tài sản của người khác đồng thời tạo môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh.

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể chủ sở hữu, thành viên Công ty TNHH phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp khi có sự vi phạm nghĩa vụ góp vốn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ đối với Công ty TNHH 1 thành viên và 60 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo quy định đối với Công ty TNHH 2 thành viên.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Hợp danh

Đối với Công ty Hợp danh, Điều 173 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

Bên cạnh đó, thành viên góp vốn nếu không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai thì sẽ bị khai trừ ra khỏi công ty. Khi bị khai trừ khỏi công ty, tư cách thành viên góp vốn chấm dứt. Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên góp vốn thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Như vậy, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn như cam kết là căn cứ để Công ty hợp danh có thể khai trừ thành viên ra khỏi công ty. Tuy nhiên, việc khai trừ thành viên ra khỏi công ty có sự khác nhau giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Theo đó thành viên góp vốn có thể bị khai trừ khỏi công ty mà không cần phân biệt thời điểm yêu cầu góp vốn từ Công ty hợp danh trong khi đó thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty khi công ty đã có yêu cầu góp vốn lần thứ hai.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Cổ phần      

Đối với Công ty Cổ phần, Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Nếu quá thời hạn này mà vẫn có cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua thì họ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty. Trường hợp cổ đông chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì họ sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán. Khi cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác, số cổ phần chưa thanh toán này được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền chào bán.

Bên cạnh đó, luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Nếu công ty không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định này. Mặt khác, Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Đây là điểm hợp lý của Luật doanh nghiệp 2014, trong khi khoản 3 Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 chỉ quy định cổ đông sáng lập phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ thì Luật doanh nghiệp 2014 quy định phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua. Ta thấy việc thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua phản ánh khả năng tài chính của công ty, tạo dựng niềm tin đối với khách hàng. Trong quá trình kinh doanh, các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty nếu phát sinh sẽ được đảm bảo từ số cổ phần mà cổ đông đăng ký mua do đó cổ đông không thể chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần chưa góp đủ như Luật doanh nghiệp 2005.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014, khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, cổ đông phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc trong một thời hạn khác ngắn hơn thời hạn nêu trên được quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần. Trong khi đó, thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Như vậy, nếu Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết có thể chịu các rủi ro nếu như công ty phát sinh các nghĩa vụ tài chính trong thời hạn này. Ngược lại, ở Công ty TNHH 1TV, nếu chủ sở hữu không góp đủ vốn điều lệ, việc hoàn tất sớm thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ sẽ có lợi hơn cho họ. Thiết nghĩ, để hạn chế Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên cũng như tạo sự thống nhất trong các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, Luật doanh nghiệp 2014 nên quy định thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, bổ sung các quy định ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty nếu họ không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong thời hạn mà Luật doanh nghiệp 2014 cho phép.

Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 quy định các cơ sở để nhận diện hành vi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, từ đó xác định hậu quả pháp lý mà chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty phải gánh chịu nhằm ràng buộc trách nhiệm của họ đối với cam kết góp vốn, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ cũng như tạo sự an toàn, ổn định cho môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khác với Công ty TNHH và công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2014 không quy định Công ty hợp danh phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ khi có thành viên vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Thiết nghĩ, vấn đề đăng ký thay đổi vốn điều lệ ở Công ty hợp danh cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Hy vọng bài phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn của Chúng tôi sẽ mang lại những thông tin hữu ích cho quý độc giả. Mọi thắc mắc hoặc có nhu cầu tư vấn về dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ:

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu áp dụng đối với người có thu nhập cao.Theo luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân được pháp luật quy định như thế nào? Dưới đây là 16 trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân.  

Luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân

Theo Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP được hướng dẫn chi tiết bởi Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 12 và bổ sung bởi khoản 4, 5 Điều 12 Thông tư 92/2015/TT-BTC), các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm:

  1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
  2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
  3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
  5. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp để hợp lý hóa sản xuất nông nghiệp nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Nhà nước giao để sản xuất.
  6. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất theo hướng dẫn tại điểm này phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

– Có quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước hợp pháp để sản xuất và trực tiếp tham gia lao động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản.

– Thực tế cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.

Địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản theo hướng dẫn này là quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là đơn vị hành chính cấp huyện) hoặc huyện giáp ranh với nơi diễn ra hoạt động sản xuất.

Riêng đối với hoạt động đánh bắt thủy sản thì không phụ thuộc nơi cư trú.

– Các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng đánh bắt thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới chỉ sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh và các hình thức bảo quản thông thường khác.

  1. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
  2. Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận được từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập tại nước ngoài gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước;

Trường hợp cá nhân nhận được tiền từ nước ngoài do thân nhân là người nước ngoài gửi về đáp ứng điều kiện về khuyến khích chuyển tiền về nước theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam thì cũng được miễn thuế.

Căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế tại điểm này là các giấy tờ chứng minh nguồn tiền nhận từ nước ngoài và chứng từ chi tiền của tổ chức trả hộ (nếu có).

  1. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động, cụ thể như sau:

– Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

– Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.

  1. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện.
  2. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

– Học bổng nhận được từ ngân sách Nhà nước bao gồm: học bổng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường công lập hoặc các loại học bổng khác có nguồn từ ngân sách Nhà nước.

– Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước (bao gồm cả khoản tiền sinh hoạt phí) theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.

  1. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
  2. Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận.

Quỹ từ thiện nêu tại điểm này là quỹ từ thiện được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định 30/2012/NĐ-CP (từ ngày 15/01/2020 được thay thế bởi Nghị định 93/2019/NĐ-CP).

Căn cứ xác định thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được miễn thuế tại điểm này là văn bản hoặc quyết định trao khoản thu nhập của quỹ từ thiện và chứng từ chi tiền, hiện vật từ quỹ từ thiện.

  1. Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế tại điểm này là văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt việc nhận viện trợ.

  1. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam nhận được do làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.
  2. Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu có được từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác thủy sản xa bờ.

Trên đây là phần luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân của công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt. Quý khách hàng chưa rõ, cần hỗ trợ vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Ở những bài viết trước, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chia sẻ các hình thức đấu thầu. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác và khách hàng phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013.

Theo Luật đấu thầu 2013, từ Điều 28 đến Điều 31 thì có 4 phương thức đấu thầu:

– Đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Xuất phát từ quy mô, tính chất phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của các gói thầu sử dụng vốn nhà nước mà Luật đấu thầu đã quy định cụ thể 4 phương thức đấu thầu khác nhau. Mục đích chính là để đáp ứng tốt nhất khả năng thực hiện và bảo đảm chất lượng của gói thầu. Đồng nghĩa, các gói thầu có sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ về phương thức đấu thầu theo Luật đấu thầu.

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán ) trong cùng một túi hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần (mở cùng lúc cả đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ).

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật theo yêu cầu sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất tài chính để đánh giá. Nếu nhà thầu nào đạt cả hai yêu cầu về kỹ thuật và tài chính thì sẽ trở thành người trúng thầu. Tuy nhiên, đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn nhà nước nhỏ, đơn giản và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28, 29 Luật đấu thầu 2013.

Các phương thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu từ Điều 28 đến Điều 31 được quy định khắt khe theo độ phức tạp và quy mô sử dụng vốn của dự án. Nếu như phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với các dự án đơn giản, quy mô vốn nhỏ thì phương thức đấu thầu hai giai đoạn lại được áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn lớn và có tính phức tạp cao hơn. Phương thức này chỉ được quy định trong Luật đấu thầu bởi lẽ các phương thức đấu thầu được quy định đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, mang tính chất công thì việc bảo đảm tiến độ công trình, chất lượng của dự án là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của cả một đất nước. Vì vậy cần phải có một phương thức đấu thầu chặt chẽ để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, với giá cả hợp lý nhất. 

Theo quy định tại Điều 30 Luật đấu thầu thì phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Xuất phát từ thực tế có rất nhiều nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của gói thầu nhưng do giá dự thầu thấp nên đã trúng thầu. Đến khi thực hiện dự án thì không bảo đảm về mặt chất lượng cũng như tiến độ thi công của gói thầu.

Bài học thực tế từ các nhà thầu Trung Quốc thời gian qua là một ví dụ điển hình. Bằng “chiêu trò” đưa ra giá thấp nhất để được trúng thầu nhưng khi trúng thầu thì họ lại chây lì, không chịu thực hiện dự án với lý do giá thấp, không đủ để thực hiện, buộc bên mời thầu (bên mua) phải tăng giá gói thầu lên thì mới chịu thực hiện. Kết quả giá của gói thầu đã bị đẩy lên cao gấp nhiều so với thực tế. Chính vì vậy, quy định này một phần loại trừ những nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trước khi xem xét tới giá của gói thầu. Bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện các công trình sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Như vậy, đối với các dự án đòi hỏi công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù thì sẽ áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ. Trong phương thức đấu thầu này thì các yêu cầu về kỹ thuật là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc trúng thầu của các bên dự thầu bởi cái bên mời thầu quan tâm nhất chính là kỹ thuật công nghệ chứ không phải giá của gói thầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ có một hoặc một số nhà thầu mới đủ điều kiện thực hiện được gói thầu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như vậy thì rất dễ dẫn đến nhà thầu đòi giá gói thầu cao hơn nhiều lần so với giá thực tế. Đây cũng chính là hạn chế của phương thức đấu thầu này bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại. 

Trong suốt quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi đã học hỏi và trau dồi được những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và hiểu rõ hơn về phương thức đấu thầu. Hy vọng những chia sẻ của luật sư tư vấn sẽ mang đến thông tin hữu ích cho quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013