Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, về đối tượng được quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014), tuy nhiên Luật này cũng có quy định theo nguyên tắc loại trừ. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 LDN 2014.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, trong số các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp được liệt kê tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014, vẫn có ý kiến trái chiều xoay quanh đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý kiến này cho rằng, việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, bởi lẽ theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013: ”Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không hẳn sẽ bị tòa án tuyên có tội; đồng thời theo nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật hình sự thì trong giai đoạn truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này vẫn được xem là người vô tội. Vì là người vô tội nên họ cần có các quyền cơ bản như những công dân bình thường khác, bao gồm cả quyền tự do kinh doanh và quyền thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc LDN 2014 cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là chưa hợp lý và thậm chí còn mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013. Thiết nghĩ, cũng giống như quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN 2005, LDN 2014 nên đưa người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi quy định cấm thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp, họ bị tòa án tuyên bố có tội và buộc phải thi hành hình phạt tù thì họ có thể lựa chọn thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp bằng cách chuyển nhượng, tặng, cho phần vốn góp (PVG)/ cổ phần cho người khác có đủ điều kiện theo luật định; nếu không tiến hành thayd đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào khoản 20 Điều 1 Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 về “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 14//2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp để thu hồi Giấy CNĐKDN đối với trường hợp trên.  

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 cũng đề cập đến một loại giấy tờ mà LDN 2005 trước kia không yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp, đó là Phiếu lý lịch tư pháp. Theo quy định, khi có yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh (cơ quan ĐKKD), người thành lập doanh nghiệp phải nộp thêm phiếu lý lịch tư pháp kèm với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có văn bản nào của cơ quan lập pháp lý giải vì sao lại yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp và trong những trường hợp cụ thể nào cơ quan ĐKKD được quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp loại giấy tờ này. Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp, chúng tôi thiết nghĩ việc LDN 2014 quy định thêm về phiếu lý lịch tư pháp là nhằm mục đích hỗ trợ cơ quan ĐKKD trong việc xác định người thành lập doanh nghiệp có rơi vào các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 hay không. Tuy nhiên, nếu xem xét định nghĩa về phiếu lý lịch tư pháp quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì “Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhận chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản”. Như vậy, phiếu lý lịch tư pháp chỉ giúp loại trừ được đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp trong trường hợp trước đó doanh nghiệp của người này bị tuyên bố phá sản theo quyết định của tòa án mà thôi; ngoài ra, các trường hợp còn lại quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN2014 thì không thể dựa vào phiếu lý lịch tư pháp để xác định được. Quan trọng hơn cả, việc LDN 2014 quy định một cách chung chung, không nêu rõ trường hợp cụ thể nào người thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu này bị áp dụng một cách tùy nghi, mà bản thân người bị yêu cầu cũng không rõ lý do vì sao. Quy định về yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp so với LDN 2005 tuy mới nhưng suy cho cùng không mang lại hiệu quả như mong đợi, thay vào đó còn làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp trở nên rườm rà và thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp bị kéo dài hơn. Bởi lẽ, nếu bị yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp, thời hạn để doanh nghiệp hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp có thể bị kéo dài thêm 10 ngày so với thời hạn thông thường. Trong khi đó, theo chủ trương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sắp tới cần theo hướng đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp hơn nữa.

Để phù hợp với chủ trương của Bộ cũng như giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp, LDN 2014 nên bỏ yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với người thành lập doanh nghiệp. Hơn nữa, thực tế trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn nhận, nếu người thành lập doanh nghiệp rơi vào các trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp còn lại của khoản 2 Điều 18 LDN 2014 thì vốn dĩ cơ quan ĐKKD cũng chỉ có thể hậu kiểm, tức phát hiện hay kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy CNĐKDN, cho nên trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp do trước đó doanh nghiệp của ngừi này bị tòa án tuyên bố phá sản cũng nên áp dụng tương tự như vậy./.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014): “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ (VĐL) của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập”. Như vậy, bước đầu LDN 2014 đưa ra định nghĩa chung về “góp vốn”, sau đó chia “góp vốn” thành hai trường hợp

  • Góp vốn để thành lập doanh nghiệp
  • Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập.

Mặc dù, hai trường hợp góp vốn này không được định nghĩa chính thức trong LDN 2014, nhưng dựa vào một số quy định liên quan, luật sư tư vấn doanh nghiệp có thể phân tích như sau:

Góp vốn để thành lập doanh nghiệp: Là trường hợp cá nhân, tổ chức góp tài sản theo cam kết nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp. Cam kết này hình thành trước khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN), hay có thể hiểu theo cách khác cam kết hình thành trước khi doanh nghiệp chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý và tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức trong giai đoạn này sẽ tạo thành VĐL ban đầu để doanh nghiệp hoạt động.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập: là trường hợp cá nhân, tổ chức tiến hành góp tài sản để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn của họ được hình thành khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, tức là sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNDDKDN. Tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức không tạo lập nên VĐL ban đầu cho doanh nghiệp mà những tài sản này sẽ làm gia tăng VĐL sẵn có của doanh nghiệp.

Nếu chỉ giới hạn khái niệm “góp vốn” ở hai trường hợp nêu trên thì quả thực khoản 13 Điều 4 LDN 2014 liệt kê chưa đầy đủ các trường hợp góp vốn. Trên thực tế, trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, chúng tôi thấy rõ việc các trường hợp cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG hoàn toàn không có hành vi trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp; thậm chí PVG mà họ được thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ, nhận chuyển nhượng cũng không nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp hay làm tăng thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập. Có nghĩa, việc sở hữu PVG cả cá nhân, tổ chức này không thuộc hai trường hợp góp vốn được liệt kê tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014. Thế nhưng, điều này không thể phủ nhận việc họ góp vốn vào doanh nghiệp . Tại sao chúng tôi lại ghi nhận như thế? Vì khi xét đến định nghĩa chung về góp vốn tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014 thì cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG vẫn sở hữu PVG tạo thành VĐL của doanh nghiệp, họ vẫn được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do vậy, về bản chất, những đối tượng này vẫn có hành vi góp vốn một cách “gián tiếp” cho dù không thực hiện hai hành vi góp vốn quy định tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014.

Từ những điểm bất cập nêu trên, luật sư tư vấn doanh nghiệp thiết nghĩ khoản 13 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về “góp vốn” theo cách thức liệt kê là chưa thực sự hợp lý. Khoản 13 Điều 4 LDN 2014 nên lược bỏ quy định liệt kê hai hành vi góp vốn là: (1) Góp vốn để thành lập doanh nghiệp và (2) Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập; thay vào chỉ nên giữ lại phần định nghĩa chung về “góp vốn”. Với cách quy định khái quát, nêu rõ bản chất của “góp vốn” là gì, sẽ giúp quy định của LDN 2014 ổn định hơn và bao quát tất cả các trường hợp góp vốn hiện còn bỏ sót, kể cả những trường hợp góp vốn có thể sẽ phát sinh dưới những hình thái khác trong tương lai./.

Công ty Luật Giải Pháp Việt tham dự hội thảo tham vấn báo cáo nghiên cứu Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài

Ngày 15/6/2020, Bộ Tư pháp, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP Việt Nam) và Đại sứ quán Anh tại Hà Nội tổ chức “Hội thảo tham vấn Báo cáo nghiên cứu về các quy định của Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài”. Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật Giải Pháp Việt đã có buổi tham dự và chia sẻ thông tin cùng các chuyên gia.

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm tham dự hội thảo tham vấn (Nguôn hình ảnh: UNDP)

Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài nói chung và việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài hiệu quả có một vai trò, tác động quan trọng đối với tiến trình Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, là yếu tố góp phần xây dựng một môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch và quyết tâm cải cách pháp luật, cảnh cách tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc – (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Cùng với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, Luật Mẫu của Ủy ban Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 (được bổ sung năm 2006) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về trọng tài với mục đích hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài thương mại; áp dụng thống nhất thủ tục tố tụng trọng tài để giải quyết hiệu quả các tranh chấp thương mại quốc tế, nhất là việc quy định rõ trách nhiệm của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài. Sự ưu việt của Luật mẫu thể hiện ở thực tế là cho đến thời điểm hiện nay đã có 83 quốc gia và 116 hệ thống pháp luật áp dụng các quy định của Luật này. Vì vậy, việc nghiên cứu quy định của Luật mẫu, so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam để từ đó có những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trọng tài là rất thiết thực.

 

Hội thảo tham vấn được tổ chức nhằm thu thập ý kiến bình luận, góp ý của các chuyên gia đối với dự thảo Báo cáo và thảo luận về khả năng áp dụng các quy định này của Luật Mẫu UNCITRAL tại Việt Nam dưới góc nhìn đa dạng từ các chuyên gia. Bên cạnh đó, Hội thảo cũng chia sẻ và thảo luận về những kinh nghiệm quốc tế về áp dụng, thực thi các quy định của Luật Mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài, qua đó đưa ra những đề xuất đối với Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung – Chánh toà Kinh tế TAND TP.HCM phát biểu tại hội thảo (Nguồn hình ảnh: UNDP).

Các ý kiến phát biểu đều cho rằng báo cáo được chuẩn bị rất công phu, có nhiều thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, cần phải cung cấp thêm các số liệu thực tiễn và các khuyến nghị cần phải cụ thể, chi tiết và sát với thực tiễn của Việt Nam hơn.

Giáo sư Richard Garnet của trường Đại học Melbourne tại Ôxtrâylia đã tham dự hội thảo từ xa và trình bày kinh nghiệm thực thi Luật Mẫu tại một số khu vực pháp lý tại châu Á – Thái Bình Dương, cho ý kiến đóng góp để các chuyên gia trong nước chỉnh lý báo cáo (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Bắt đầu từ tháng 7/2019, Việt Nam đã bắt đầu đảm nhận vai trò thành viên UNCITRAL nhiệm kỳ 2019-2025, trở thành thành viên của UNCITRAL trong nhiệm kỳ mới này là “cơ hội vàng” bởi chúng ta sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào quá trình thảo luận, xem xét các vấn đề mà các quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân đặt ra trong các vấn đề thương mại quốc tế. Việt Nam cũng sẽ có tiếng nói sớm hơn, sâu hơn đối với các văn bản, văn kiện được xem xét; nhờ đó không chỉ có thể đóng góp vào công việc chung của thương mại quốc tế mà còn có thể bảo đảm những lợi ích chính đáng của mình.

“Một vấn đề nữa là quá trình tham gia đó sẽ giúp chúng ta tích lũy thêm kinh nghiệm, trí thức để vận dụng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của chúng ta, thực thi tốt hơn những công ước ở trong nước, đào tạo cán bộ, tăng cường khả năng phối hợp giữa các bộ ngành liên quan.Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Việt Nam phải tham vấn các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao năng lực pháp lý nói chung không chỉ của cơ quan nhà nước mà cả các cơ chế, các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp…Một trong những vấn đề đang được trao đổi rất nhiều hiện nay là chúng ta nên cân nhắc đến vấn đề thay đổi một số cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và các nhà đầu tư. Việt Nam là một trong những điểm đến, thu hút nhiều đầu tư nước ngoài” – Luật sư Tâm chia sẻ cùng các chuyên gia.

Trong tương lai chắc chắn sẽ nảy sinh những tranh chấp giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp Việt Nam, nên vấn đề thay đổi hệ thống này cho hiệu quả hơn là rất quan trọng. Câu hỏi được đặt ra là nếu xảy ra tranh chấp thì quá trình giải quyết có thể kéo dài, tốn kém, liệu có khách quan hay không, có bảo vệ được lợi ích của cả hai bên hay không? Đối với các quốc gia đang phát triển với tình trạng đội ngũ luật sư, tri thức về luật còn hạn chế, nguồn tài chính hạn chế … thì làm sao giảm thiểu tranh chấp. Và khi xảy ra tranh chấp và đưa ra các cơ chế pháp lý quốc tế như trọng tài thương mại hoặc các cơ chế khác thì làm sao phải đảm bảo lợi ích chính đáng công bằng cho cả hai bên. Việc chúng ta tham gia được vào thảo luận, nghiên cứu, thương lượng trong các nhóm tại UNCITRAL giúp chúng ta đóng góp được ngay từ quá trình định hình các thể chế quốc tế. Từ đó, chúng ta có kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của chính mình, trước hết là trong lĩnh vực thương mại./.

Theo công ty Luật Giải Pháp Việt

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Ngày 11/6/2020, Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương tổ chức họp mặt hội viên 6 tháng đầu năm và Lễ kết nạp Hội viên mới. Tiếp nối những kết quả đạt được trong những năm qua, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt vinh dự trở thành Hội viên Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương.

Luật sư Khưu Thanh Tâm tại buổi họp mặt và trao giấy chứng nhận.

Tham gia Hội viên Hội doanh nhân trẻ Bình Dương với mục tiêu liên kết hợp tác và cùng hỗ trợ nhau để phát triển. Trong thời gian sắp tới, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt hy vọng sẽ có thể hỗ trợ tư vấn pháp lý và phổ biến pháp luật cho cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trẻ và người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Bên cạnh đó, Giải Pháp Việt sẽ phối hợp, đồng hành cùng các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội và lan toả những hành động tốt đẹp vì cộng đồng tỉnh Bình Dương. Với mục đích góp phần nhỏ của mình hỗ trợ những hoàn cảnh và điều kiện sống khó khăn, san sẻ một phần và tạo động lực để họ vươn lên trong cuộc sống. Chúng tôi thiết nghĩ hoạt động cộng đồng không những là tấm lòng tương thân tương ái mà còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội địa phương, xây dựng thành công thành phố thông minh Bình Dương./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế”

Sáng ngày 09/06/2020, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham dự buổi hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế” do Khoa Luật trường – Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP. Hồ Chí Minh (HUFLIT) tổ chức. (Luật sư tư vấn luật  doanh nghiệp)

Quang cảnh hội thảo

TS. Bùi Kim Hiếu – Trưởng Khoa Luật trường Đại học Ngoại Ngữ – Tin Học TP.HCM bắt đầu với chủ đề “Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp – Bất cập và hướng hoàn thiện”. Theo tiến sĩ, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp chính vì vậy sự chú trọng về ưu đãi đối với các doanh nghiệp tại đây là một điều khá quan trọng và cần hoàn thiện nhằm phù hợp với pháp luật hiện hành.

Phát biểu tại hội thảo, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm chia sẻ:

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm phát biểu tại hội thảo (Nguồn ảnh: Huflit)

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang thực hiện ở nước ta, có nhiều vấn đề mới nảy sinh, một số ngành nghề mới xuất hiện mà chưa có pháp luật điều chỉnh. Đáng lưu ý hơn, sau tình hình dịch bệnh Covid -19, chúng ta cần cân nhắc đến các biện pháp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, bởi đây là yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài sau đợt khủng hoảng này. Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng nêu ví dụ cụ thể, liên quan đến điều khoản về bảo đảm đầu tư khi có sự thay đổi của pháp luật đã được quy định tại Điều 13 của Luật Đầu tư, tuy nhiên, quy định này mới chỉ dừng lại ở sự thay đổi văn bản pháp luật về ưu đãi đầu tư. Trong quá trình luật sư tư vấn luật doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp thì nhà đầu tư đòi hỏi nhiều hơn thế, bao gồm: bảo đảm quyền sở hữu tài sản từ hữu hình cho đến sở hữu về trí tuệ, bảo đảm chuyển tài sản và lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư ra nước ngoài, bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, bảo đảm đầu tư đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.

Bên cạnh đó, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng chia sẻ về các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cần phải tạo được sự cạnh tranh lành mạnh. Cụ thể, kể từ khi chúng ta có Luật Đầu tư nước ngoài, rất nhiều đạo luật liên quan đến doanh nghiệp, đầu tư đều đưa vào các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế. Công thức cơ bản chúng ta thường thấy là miễn thuế 5 năm đầu, 9 năm tiếp theo được miễn giảm 50% đối với thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chúng ta có thể tìm thấy những ưu đãi thuế ở rất nhiều luật, quy định về đặc khu kinh tế đến khu chế xuất, khu công nghiệp… Nhưng liệu những ưu đãi này có thực sự phát huy tác dụng đối với doanh nghiệp? Với nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư, những năm đầu hoạt động sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận không có thì lấy gì nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, chính sách miễn thuế thực chất có phát huy tác dụng hay không? Hết giai đoạn miễn thuế, đến giai đoạn giảm thuế 50%, vẫn có nhiều doanh nghiệp hàng chục năm sau vẫn không có thu nhập để nộp thuế. Nguyên nhân thì có nhiều và không loại trừ trường hợp doanh nghiệp gian dối thu nhập.

Chưa kể vấn đề về cách thức được nhận ưu đãi. Doanh nghiệp không được tự động ưu đãi, tức là cứ đáp ứng đủ điều kiện thì được ưu đãi mà vẫn phải qua sự xét duyệt của cơ quan quản lý. Và hậu quả là có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng mức ưu đãi cao hơn, thời gian kéo dài hơn so với quy định chung. Vô hình trung, chính sách miễn giảm thuế đã tạo ra kẽ hở để người ta lợi dụng, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh.

Hội thảo năm nay đã thu hút nhiều bài tham luận của các phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia về luật, các luật sư đến từ các công ty Luật uy tín, các giảng viên ngành luật tại nhiều trường Đại học nổi tiếng ở Việt Nam với nhiều góc nhìn đa chiều về các quy định pháp luật hiện nay.

Ngoài ra, buổi hội thảo được nhiều phiên thảo luận về các vấn đề khác nhau như: pháp luật về hộ kinh doanh gia đình;  quản lý các công ty cổ phần; góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất; pháp luật về con dấu của doanh nghiệp… hội thảo cũng bàn luận đến những điểm mới của Luật cạnh tranh 2018; về những điểm cạnh tranh không lành mạnh trong một số lĩnh vực; về các mối quan hệ giữa luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ.

Theo luật sư tư vấn luật doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Luật sư tư vấn đấu thầu: Trục lợi từ việc mua thiết bị chống Covid-19 vi phạm nghiệm trọng quy định về đấu thầu

Luật sư tư vấn đấu thầu công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ những thông tin liên quan đến việc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội trục lợi từ việc mua thiết bị chống Covid-19 vi phạm nghiệm trọng quy định về đấu thầu.

Từ đầu năm 2020, nhằm đáp ứng nhu cầu xét nghiệm phòng, chống dịch Covid-19, Trung tâm kiểm soát bệnh tật  (gọi tắt CDC) Hà Nội đã thực hiện mua sắm một số hệ thống Realtime PCR tự động, bao gồm các máy tách chiết mẫu, máy phân tích mẫu và phụ tùng, chi phí bảo trì sẽ được thực hiện từ các doanh nghiệp. Do thời gian gấp và mang tính cấp bách nên việc mua sắm này được CDC Hà Nội thực hiện theo phương thức chỉ định thầu. Tuy nhiên, các hệ thống Realtime PCR tự động đã được CDC Hà Nội đưa vào gói thầu với giá hơn 7 tỉ đồng/hệ thống, cao hơn rất nhiều so với giá thị trường.

Được biết, CDC Hà Nội đã căn cứ vào mức giá đề xuất của Công ty CP định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành, tuy nhiên qua xác minh cho thấy các hệ thống Realtime PCR tự động có giá trị thực tế chỉ hơn 4 tỉ đồng. Điều này cho thấy, CDC Hà Nội và các doanh nghiệp đã móc ngoặc với nhau đẩy giá lên cao để trục lợi khoản chênh lệch. 

Chiều 22.4, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) trực thuộc Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại CDC Hà Nội (thuộc Sở Y tế Hà Nội) và một số đơn vị liên quan. Đồng thời ra quyết định khởi tố bị can, thực hiện các lệnh khám xét và lệnh bắt bị can để tạm giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với 7 đối tượng về hành vi vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, quy định tại điều 222 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vậy pháp luật quy định như thế nào về Điều 222 “Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” BLHS 2015 SĐBS 2017 là như thế nào?

Luật sư tư vấn đấu thầu

Nhà nước quản lý hoạt động đấu thầu thông qua Luật đấu thầu 2013 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành. Hiện nay Luật đấu thầu chỉ điều chỉnh hoạt động đấu thầu các dự án đầu tư có nguồn vốn nhà nước, các dự án đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư (PPP), các dự án đầu tư có sử dụng đất. Còn các hoạt động đấu thầu các dự án khác thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu. Do đó, nếu như có các hành vi vi phạm trong đấu thầu các dự án loại này, tùy vào mức độ thiệt hại mà xem xét ở các hành vi phạm tội khác, không cấu thành tội vi phạm các quy định về đấu thầu.

Theo luật sư tư vấn đấu thầu, tại Điều 89 Luật Đấu thầu đã có quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu và Điều 90 có quy định về xử lý vi phạm. Luật Đấu thầu và các nghị định hướng dẫn cũng đã có quy định về xử lý hành vi tiêu cực, các chế tài theo quy định về hành chính. Tuy nhiên, tại Khoản 1 Điều 90 của Luật Đấu thầu có quy định rằng: “Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Như vậy, việc Bộ luật Hình sự 2015 có quy định tại Điều 222 về “Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” chính là sự nối tiếp quy định tại Điều 90 của Luật Đấu thầu 2013 và tạo ra sự đồng bộ về hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý hành vi tiêu cực cũng như răn đe đối với các đối tượng thực hiện hành vi tiêu cực trong đấu thầu.

Điều 222 không chỉ nhắm đến nhà thầu, chủ đầu tư mà còn nhắm đến tất cả các đối tượng liên quan. Tại Khoản 1 của Điều 222 có quy định: “Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây…”, nghĩa là bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào mà có thực hiện hành vi đó, bao gồm cả nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cơ quan thanh tra, kiểm toán, những người có thẩm quyền,… nếu có thực hiện các hành vi được liệt kê tại Khoản 1 Điều 222 thì đều là đối tượng điều chỉnh của điều này. Quy định này đã tạo được một chế tài công bằng, cả phía cơ quan nhà nước và cả phía doanh nghiệp, nhà thầu, mà không thiên lệch, nương nhẹ cho bất kỳ đối tượng nào.

Thực tế hiện nay, tình trạng “thông thầu” thường là sự dàn xếp giữa một và nhiều bên tham gia đấu thầu để tạo lợi thế riêng cho mình, tạo sự cạnh tranh không công bằng, để cho một bên trúng thầu. Việc thông thầu có thể xảy ra theo các hình thức là: giữa các nhà thầu với nhau cùng tham dự thầu, giữa bên mời thầu với nhà thầu, hoặc giữa chủ đầu tư với nhà thầu, thậm chí cả với cơ quan thẩm định… Nên luật sẽ rất công bằng, nếu cứ thực hiện hành vi như vậy thì bị xử lý theo đúng quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 222 của Bộ luật Hình sự và khung xử phạt sẽ bị xử lý theo quy định tại Điểm b Khoản 2 của Điều 222 này (phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm). 

Lời khuyên mà luật sư tư vấn đấu thầu dành cho tất cả các chủ đầu tư, doanh nghiệp là hãy kinh doanh nghiêm túc, nâng cao tính chuyên môn, chuyên nghiệp, bài bản và nên dựa vào các hiệp hội nghề nghiệp như là Hiệp hội Nhà thầu xây dựng, hoặc các hiệp hội ngành nghề hoặc Văn phòng Luật sư tư vấn uy tín để có những tư vấn pháp lý cần thiết, tránh vì sự  thiếu hiểu biết dẫn đến những vi phạm không đáng có.

Đặc biệt, phải tự thân nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao năng lực, kinh nghiệm và chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu từ việc nghiên cứu, nắm rõ các quy định của pháp luật, nhất là các chế tài như thế này. Đồng thời, khi tham gia đấu thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng phải bảo đảm tuân thủ theo quy định pháp luật của Nhà nước./.

Sở hữu trí tuệ thế giới 2020: Đổi mới vì một tương lai xanh

Từ năm 2000, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) lựa chọn lấy ngày 26-4 hằng năm là Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới (IP Day) nhằm tri ân, tôn vinh các nhà sáng tạo, đồng thời truyền thông nâng cao nhận thức về vai trò của sở hữu trí tuệ trong cuộc sống hằng ngày.

Từ đó, “IP Day” trở thành ngày mà mọi người trên thế giới cùng nhau tìm hiểu và cổ vũ cho những đóng góp của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển chung của toàn nhân loại vì cuộc sống con người. 

Luật sư tư vấn sở hữu trí tuệ

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo – và các quyền sở hữu trí tuệ hỗ trợ đổi mới sáng tạo – là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh. Tại sao? Bởi vì những lựa chọn chúng ta đưa ra hôm nay sẽ định hình tương lai của chúng ta mai sau. Trái đất là nhà của chúng ta. Chúng ta cần quan tâm đến Trái đất.

Trái đất là ngôi nhà của chúng ta. Gần 60 năm trước, tháng 4-1961, trong chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ, phi hành gia người Nga Yuri Gagarin đã kinh ngạc thốt lên: “Từ vũ trụ, tôi không nhìn thấy ranh giới giữa các quốc gia, chỉ thấy trái đất một màu xanh. Tôi mong mọi người trên thế giới hãy cùng nhau bảo vệ và tô điểm chứ không phải là phá hủy nó”.

Thế nhưng nhiều thập kỷ qua, cùng với sự phát triển công nghệ, trái đất dường như đang trở nên ô nhiễm hơn và biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang từng ngày làm thay đổi thế giới, WIPO kêu gọi tất cả chúng ta, không phân biệt quốc gia hay dân tộc, cần ý thức được trách nhiệm trong cộng đồng, góp phần ngăn chặn tình trạng ô nhiễm, xây dựng một “tương lai xanh”… Với thông điệp năm nay, WIPO muốn nhấn mạnh đến tính cấp bách của vấn đề.

“Tương lai xanh” ở đây được hiểu là một tương lai phát triển, văn minh và bền vững. Theo WIPO, con người có trí tuệ, có sự khéo léo và khả năng sáng tạo tập thể để đưa ra những cách thức mới, hiệu quả hơn nhằm định hình một tương lai xanh. Cái đích cuối cùng sẽ là quay lại phục vụ con người, nâng cao giá trị nhân văn, giá trị con người…

Để một đô thị là thành phố xanh (green city) cần 3 ý niệm. Trước hết, nơi đây phải là một đô thị sinh thái (eco-city), nơi có một tỷ lệ đáng kể cây xanh đóng góp vào sự cân bằng sinh thái trên địa bàn dân cư. Tiếp đến là phải thể hiện yếu tố phát triển bền vững (sustainable city) với kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên và ứng phó hữu hiệu với tình trạng biến đổi khí hậu. Và cuối cùng, đây phải là một thành phố thông minh (smart city) từ việc tích hợp những công nghệ hiện đại vào quản lý, điều hành và phục vụ các nhu cầu của cư dân. Thành phố thông minh cũng là thành phố sáng tạo, ở đó, khả năng sáng tạo của mỗi con người là tài nguyên, là của cải vật chất.

Nhận thấy tầm quan trọng của tài sản trí tuệ trong thời kỳ hội nhập nên ngay từ khi bắt đầu hoạt động, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chú trọng phát triển đội ngũ luật sư tư vấn sở hữu trí tuệ, Giải Pháp Việt đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp chứng chỉ chứng nhận Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp. Với đội ngũ luật sư tư vấn kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Giải Pháp Việt đã trở thành điểm đến quen thuộc và uy tín của các doanh nghiệp, chúng tôi hiện đang là tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp cho nhiều doanh nghiệp trên cả nước, thực hiện các hoạt động: Tư vấn và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ; Đại diện quyền sở hữu trí tuệ; Nhận diện vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Tham gia giải quyết tranh chấp phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.

Với chủ đề ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 “Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh”, thiết nghĩ chúng ta hãy khám phá vai trò của đổi mới sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ phát huy những thành quả đổi mới để góp phần mở ra một con đường dẫn đến tương lai xanh./.

Nghị quyết 42/NQ-CP 2020 hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đã lan rộng và bùng phát tại nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu và các nước, đối tác lớn của nước ta. Ở trong nước, dịch Covid-19 đã và đang tác động đến nhiều mặt trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội; đời sống người dân gặp nhiều khó khăn; nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã phải tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng làm gia tăng thất nghiệp, mất việc làm trong ngắn hạn và tình hình có thể phức tạp hơn nếu dịch bệnh kéo dài. Nhằm chia sẻ khó khăn, bảo đảm cuộc sống của nhân dân, người lao động cả nước, góp phần ổn định xã hội, ngày 09/4/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP thực hiện một số biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Nghị quyết 42/NQ-CP 2020 hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

Về nguyên tắc thực hiện Nghị quyết 42 tập trung vào các nội dung như:

– Hỗ trợ đối tượng bị giảm sâu thu nhập, mất, thiếu việc làm, gặp khó khăn, không đảm bảo mức sống tối thiểu, chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19; hỗ trợ thêm cho một số nhóm đối tượng đang hưởng chính sách ưu đãi, bảo trợ xã hội trong thời gian có dịch.

– Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động.

– Việc hỗ trợ bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách. Đối tượng hỗ trợ thuộc diện được hưởng từ 02 chính sách trở lên tại Nghị quyết này thì chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ cao nhất; không hỗ trợ đối tượng tự nguyện không tham gia.

–  Ưu tiên dành nguồn lực từ ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách tại Nghị quyết này.

Về nội dung hỗ trợ Nghị quyết 42/NQ-CP:

– Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động phải thỏa thuận tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 01 tháng trở lên do các doanh nghiệp gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19, không có doanh thu hoặc không có nguồn tài chính để trả lương thì được hỗ trợ với mức 1.800.000 đồng/người/tháng. Thời gian hỗ trợ theo thời gian thực tế tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không lương, theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch, tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2020 và không quá 3 tháng.

– Người sử dụng lao động có khó khăn về tài chính và đã trả trước tối thiểu 50% lương ngừng việc cho người lao động theo Khoản 3 Điều 98 của Bộ luật lao động trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 thì được vay không có tài sản đảm bảo tối đa 50% tiền lương tối thiểu vùng đối với từng người lao động theo thời gian trả lương thực tế nhưng không quá 3 tháng với lãi suất 0%, thời hạn vay tối đa 12 tháng tại Ngân hàng Chính sách xã hội để trả phần lương còn lại và giải ngân trực tiếp hàng tháng đến người bị ngừng việc.

– Hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh từ ngày 01 tháng 4 năm 2020 được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ/tháng theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng không quá 3 tháng.

– Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm được hỗ trợ 1.000.000 đồng/người/tháng theo hằng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng tối đa không quá 3 tháng. Thời gian áp dụng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020.

– Người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng được hỗ trợ thêm 500.000 đồng/người/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 và được chi trả một lần.

– Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được hỗ trợ thêm 500.000 đồng/người/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 và được chi trả một lần.

– Hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia trong danh sách đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 được hỗ trợ 250.000 đồng/khẩu/tháng. Thời gian áp dụng là 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 và được chi trả một lần.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 42/NQ-CP bổ sung thêm các chính sách khác cho người sử dụng lao động như: Người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 50% lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm cơ quan có thẩm quyền công bố dịch (kể cả lao động ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất tối đa không quá 12 tháng.

Đồng thời, cho phép người lao động được gửi hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp qua đường bưu điện, thông báo về việc tìm kiếm việc làm hàng tháng được thực hiện dưới hình thức gián tiếp (gửi thư điện tử, fax, qua đường bưu điện…) trong thời gian từ ngày 01 tháng 4 năm 2020 đến khi công bố hết dịch mà không phải xin xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về việc xảy ra dịch bệnh trên địa bàn.

 

Doanh nghiệp rút ra được bài học gì từ dịch COVID-19?

Theo luật sư tư vấn của Giải Pháp Việt trong bối cảnh sự bùng phát dịch COVID-19 gây ra ở thời điểm hiện tại thì đâu là những bài học mà các doanh nghiệp có thể rút ra?

Ảnh minh họa (nguồn Internet)

 

Bài học số 1: Những chương trình khuyến mại hàng hóa, những đợt giảm giá các mặt hàng nên được điều chỉnh phù hợp với những thay đổi trong nhu cầu và nguồn cung của chính các công ty.

Một số ngành nghề nhất định sẽ được “hưởng lợi” từ dịch COVID-19 này. Những ngành nghề cung cấp các trang thiết bị chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vệ sinh và lau dọn, các chương trình giải trí trực tuyến và các dịch vụ giao nhận hàng hóa đã ghi nhận nhu cầu tăng vọt đối với các sản phẩm và dịch vụ của mình.Trong khi các ngành nghề này có thể tính đến việc tăng giá trong giai đoạn trước mắt, thì họ cũng nên cần phải cẩn trọng và nhạy cảm đối với những phản ứng và sự thấu hiểu của dư luận người dân đối với việc kiếm lợi từ cuộc khủng hoảng.

Tuy nhiên, hầu hết các công ty, chắc chắn sẽ chứng kiến sự suy giảm nói chung trong hoạt động và kinh doanh. Các ngành công nghiệp du lịch, nhà hàng khách sạn và bán lẻ nằm trong số những lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất. Các doanh nghiệp trong những lĩnh vực này cần phải chấp nhận những đợt khuyến mại lớn, những đợt “trao tặng” hàng hóa để có thể tiếp cận người tiêu dùng.

Ví dụ như nhiều nhà hàng đã phải điều chỉnh các thực đơn của mình để đưa ra và cung cấp những lựa chọn có lợi hơn cho sức khỏe và thúc đẩy các hoạt động giao nhận trực tuyến. Một số nhà cung cấp dịch vụ y tế sức khỏe và giáo dục hiện tại đã và đang cung cấp trực tuyến một phần dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác.

Một tác động rõ ràng đối với nhiều doanh nghiệp chính là sự gián đoạn trong các chuỗi cung ứng. Các công ty, doanh nghiệp có tính chủ động đang phân tích những tác động hiện tại và trong tương lai của vấn đề này, đồng thời đang tái cơ cấu, điều chỉnh các mô hình nguồn cung và các chuỗi cung ứng để đảm bảo yếu tố linh hoạt và khả năng tự phục hồi. Quãng thời gian tăng trưởng chững lại cũng là một cơ hội cho việc đào tạo và phát triển kỹ năng, tay nghề cho nhân viên, và cũng giúp cho việc lên kế hoạch được dài hơi hơn.

Bài học số 2: Thời điểm hiện tại đang là cơ hội tốt để suy nghĩ xem xét và có những hành động về những vấn đề mà các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý các công ty, doanh nghiệp trước đây chưa có nhiều thời gian để tập trung vào.

Một trong những vấn đề cần được xem xét chính là yếu tố “năng lực tự phục hồi”. Ngoài việc lên kế hoạch tiếp tục hoạt động kinh doanh, các công ty, doanh nghiệp cần phải tìm cách “đa dạng hóa”. Các nguồn lực được đa dạng hóa sẽ cho phép tiếp tục công việc khi một bộ phận của lực lượng lao động trở nên “bị vô hiệu hóa”. Các nguồn doanh thu được đa dạng hóa sẽ cho phép công ty, doanh nghiệp “không bị chết chìm” khi kinh doanh bị đình trệ do tác động từ cuộc khủng hoảng.

Một vấn đề khác nữa là yếu tố kỹ thuật công nghệ. Khi con người không thể đi lại hoặc gặp gỡ nhau giữa các nhóm người, họ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào kỹ thuật công nghệ giao tiếp để có thể duy trì liên lạc và hoàn tất công việc. Khi người dân ở nhà, họ sẽ tham gia vào các chương trình trò chơi trực tuyến và sử dụng hình thức thương mại điện tử để mua bán hàng hóa tiêu dùng gia đình. Một số công ty, doanh nghiệp cũng đã thiết lập các ủy ban kiểm soát khủng hoảng để lên kế hoạch, điều phối và thực thi các biện pháp để ngăn ngừa, phòng chống dịch COVID-19.

Có lẽ họ có thể cân nhắc thành lập các “ủy ban thời cơ khủng hoảng” để tìm ra cách thức bảo vệ doanh thu, lợi nhuận cũng như hiện thực hóa các “ích lợi” mà dịch bệnh này đem lại, trong khi đồng thời nắm rõ những tác động và hậu quả của nó đối với các mô hình kinh doanh.

Ảnh minh họa (nguồn: Internet)

Bài học số 3: Doanh nghiệp cần đề xuất bổ sung các quy định trong Bộ luật Lao động  để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay đang chuyển biến ngày một phức tạp.

Cân nhắc việc xây dựng quỹ “tiền lương dự phòng” của doanh nghiệp. Quy định này được hình thành lúc doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi và có một phần đóng góp của người lao động, quỹ này chỉ được sử dụng khi doanh nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… hoặc những lý do bất khả kháng khác mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm giờ làm việc, cho nghỉ luân phiên…

Bên cạnh đó, do dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp phải huỷ đơn hàng, hoặc bị phạt chậm giao hàng, không đạt kế hoạch sản xuất kinh doanh… Do vậy, cần có quy định theo hướng cho phép doanh nghiệp bố trí người lao động làm thêm giờ cao hơn quy định hiện hành, linh hoạt hơn để bù đắp phần gián đoạn do dịch bệnh. Tất nhiên, làm thêm giờ này vẫn được chi trả cho người lao động theo quy định hiện hành. Các trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Doanh nghiệp tạo điều kiện áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà… để giữ, chăm sóc con trong tình hình dịch bệnh.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Việc không khai báo y tế trung thực về Covid-19 có vi phạm pháp luật?

Hiện nay dịch bệnh Covid-19 được phân loại vào nhóm A là nhóm gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

 

Theo Điều 8 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, quy định những hành vi bị nghiêm cấm đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm gồm: Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Nói về hành động trốn cách ly của cô gái về từ vùng có dịch tại Hàn Quốc, hành vi của cô gái là cố ý vi phạm pháp luật nên cần phải xem xét xử lý đúng quy định.Trong trường hợp này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Pháp luật Việt Nam quy định mức xử phạt cho hành vi này là như thế nào? 

Theo Điều 10 của Nghị định 176/2013/NĐ-CP Vi phạm quy định về cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế cụ thể tại Khoản 2 Điều này nêu rõ:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

– Không tổ chức thực hiện việc cách ly y tế đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

– Từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, đối tượng kiểm dịch y tế biên giới mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định với hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người khác thì người vi phạm còn có thể bị xử lý về hình sự. Cụ thể, tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm c Khoản 1 Điều 240 về Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, quy định:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế; Làm chết người.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm: Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; Làm chết 02 người trở lên và người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp cô gái khai báo gian dối ở sân bay Tân Sơn Nhất, có lẽ cô ấy không nghĩ đến hậu quả của việc mình làm, giả sử nếu có hậu quả nghiêm trọng xảy ra sẽ cấu thành tội phạm, đủ điều kiện bị xử lý thì vẫn bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Từ sự việc này, các cơ quan chức năng đặc biệt là bộ phận kiểm soát ở các sân bay quốc tế và chính quyền địa phương cần có cơ chế làm việc chặt chẽ để kiểm soát được nguy cơ lây lan dịch bệnh. Vì vậy, người dân nên nâng cao ý thức, trách nhiệm, có bệnh cần phải tự giác trung thực và đặc biệt phải hiểu rằng cách ly trước hết là vì quyền lợi của chính bản thân mình. Sau đó là quyền lợi của gia đình và cộng đồng xã hội./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt