Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Ở những bài viết trước, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chia sẻ các hình thức đấu thầu. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác và khách hàng phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013.

Theo Luật đấu thầu 2013, từ Điều 28 đến Điều 31 thì có 4 phương thức đấu thầu:

– Đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Xuất phát từ quy mô, tính chất phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của các gói thầu sử dụng vốn nhà nước mà Luật đấu thầu đã quy định cụ thể 4 phương thức đấu thầu khác nhau. Mục đích chính là để đáp ứng tốt nhất khả năng thực hiện và bảo đảm chất lượng của gói thầu. Đồng nghĩa, các gói thầu có sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ về phương thức đấu thầu theo Luật đấu thầu.

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán ) trong cùng một túi hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần (mở cùng lúc cả đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ).

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật theo yêu cầu sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất tài chính để đánh giá. Nếu nhà thầu nào đạt cả hai yêu cầu về kỹ thuật và tài chính thì sẽ trở thành người trúng thầu. Tuy nhiên, đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn nhà nước nhỏ, đơn giản và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28, 29 Luật đấu thầu 2013.

Các phương thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu từ Điều 28 đến Điều 31 được quy định khắt khe theo độ phức tạp và quy mô sử dụng vốn của dự án. Nếu như phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với các dự án đơn giản, quy mô vốn nhỏ thì phương thức đấu thầu hai giai đoạn lại được áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn lớn và có tính phức tạp cao hơn. Phương thức này chỉ được quy định trong Luật đấu thầu bởi lẽ các phương thức đấu thầu được quy định đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, mang tính chất công thì việc bảo đảm tiến độ công trình, chất lượng của dự án là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của cả một đất nước. Vì vậy cần phải có một phương thức đấu thầu chặt chẽ để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, với giá cả hợp lý nhất. 

Theo quy định tại Điều 30 Luật đấu thầu thì phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Xuất phát từ thực tế có rất nhiều nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của gói thầu nhưng do giá dự thầu thấp nên đã trúng thầu. Đến khi thực hiện dự án thì không bảo đảm về mặt chất lượng cũng như tiến độ thi công của gói thầu.

Bài học thực tế từ các nhà thầu Trung Quốc thời gian qua là một ví dụ điển hình. Bằng “chiêu trò” đưa ra giá thấp nhất để được trúng thầu nhưng khi trúng thầu thì họ lại chây lì, không chịu thực hiện dự án với lý do giá thấp, không đủ để thực hiện, buộc bên mời thầu (bên mua) phải tăng giá gói thầu lên thì mới chịu thực hiện. Kết quả giá của gói thầu đã bị đẩy lên cao gấp nhiều so với thực tế. Chính vì vậy, quy định này một phần loại trừ những nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trước khi xem xét tới giá của gói thầu. Bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện các công trình sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Như vậy, đối với các dự án đòi hỏi công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù thì sẽ áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ. Trong phương thức đấu thầu này thì các yêu cầu về kỹ thuật là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc trúng thầu của các bên dự thầu bởi cái bên mời thầu quan tâm nhất chính là kỹ thuật công nghệ chứ không phải giá của gói thầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ có một hoặc một số nhà thầu mới đủ điều kiện thực hiện được gói thầu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như vậy thì rất dễ dẫn đến nhà thầu đòi giá gói thầu cao hơn nhiều lần so với giá thực tế. Đây cũng chính là hạn chế của phương thức đấu thầu này bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại. 

Trong suốt quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi đã học hỏi và trau dồi được những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và hiểu rõ hơn về phương thức đấu thầu. Hy vọng những chia sẻ của luật sư tư vấn sẽ mang đến thông tin hữu ích cho quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Theo luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, nhìn một cách tổng quát, Luật đấu thầu năm 2013 quy định các hình thức đấu thầu nhiều hơn các Luật khác. Nguyên nhân chính là do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu. Luật đấu thầu 2013 quy định các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp nhu cầu thực tế hiện nay.

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu thông qua việc đấu thầu rộng rãi và hạn chế. Ngoài hai hình thức trên, Luật đấu thầu còn quy định thêm các hình thức đấu thầu khác. Vậy các hình thức đấu thầu đó là gì? Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn sẽ cung cấp thông tin đến quý bạn đọc về các hình thức đấu thầu còn lại theo Luật đấu thầu 2013.

Các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013

Chỉ định thầu; Chào hàng cạnh tranh; Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng là các hình thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu mà không được quy định trong Luật thương mại 2005. Mục đích là để đáp ứng các nhu cầu thực tế về đấu thầu đối với các gói thầu phức tạp, mang tính cấp thiết và nhân đạo…Trong đó chỉ định thầu là một hình thức đấu thầu đặc biệt. 

Theo quan điểm của luật sư tư vấn, quy định tại Khoản 4 Điều 22 Luật đấu thầu thì chỉ định thầu đối với nhà đầu tư được áp dụng trong các trường hợp sau:

– Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện;

– Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn;

– Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, bằng hình thức chỉ định thầu, bên mời thầu không phải tổ chức đấu thầu, tiết kiệm được chi phí tổ chức và thời gian. Qua đó, bên mời thầu đẩy nhanh được tiến độ gói thầu, bảo đảm được bí mật công nghệ và đáp ứng tính cấp bách của dự án đầu tư cần triển khai.

Tuy nhiên, các gói thầu được áp dụng chỉ định thầu phải thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật đấu thầu 2013. Việc thực hiện chỉ định thầu đối với gói thầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 22 của Luật này. Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Theo đó các gói thầu này phải nằm trong hạn mức do Chính phủ quy định như: “Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công. Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên” (Điều 54 NĐ 63/2014/CP ). 

Vậy thì, các hình thức đấu thầu còn lại như: Chào hàng cạnh tranh, Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng trong Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Về hình thức đấu thầu chào hàng cạnh tranh: Đây là hình thức đấu thầu áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật đấu thầu và Điều 57 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh chỉ đáp ứng đối với các gói thầu có giá trị trong hạn mức mà pháp luật quy định và thuộc trong những trường hợp nhất định được xác định như sau:

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình thông thường thì được áp dụng đối với các gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng sẵn có trên thị trường (có đặc tính kỹ thuật đã được tiêu chuẩn hóa, và tương đương nhau về chất lượng); hoặc gói thầu xây lắp công trình đơn giản (đã có bản vẽ thi công được phê duyệt) mà giá trị gói thầu không quá 05 tỷ đồng.

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình rút gọn thì bên mời thầu chỉ có thể sử dụng hình thức này để áp dụng đối với: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản mà có giá trị không quá 500 triệu đồng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương chất lượng và gói thầu xây lắp đơn giản đã có thiết kế được phê duyệt có giá trị không quá 01 tỷ đồng; Gói thầu đối với mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng.

Về hình thức đấu thầu mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác. Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi có đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 2 Điều 24 Luật đấu thầu:

Nhà thầu được lựa chọn thông qua hình thức mua sắm trực tiếp phải là nhà thầu đã trúng thầu gói thầu tương tự trước đó thông qua đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế. Nhà thầu đã thực hiện việc ký kết hợp đồng để thực hiện gói thầu. So với gói thầu đã được ký kết trước đó thì gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp phải là gói thầu có tính chất, nội dung tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu tương tự đã đấu thầu rộng rãi trước đó.

Bên cạnh đó, đơn giá của phần việc trong gói thầu áp dụng thực hiện mua sắm trực tiếp không được phép vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc vào gói thầu đã được thực hiện ký kết trước đó. Thời gian áp dụng cho gói thầu mua sắm trực tiếp không được quá 12 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp.

Tuy nhiên, nhà thầu đã thực hiện hợp đồng trước đó, nếu không có khả năng thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì mua sắm trực tiếp sẽ được áp dụng đối với nhà thầu khác nếu nhà thầu đó đủ điều kiện theo quy định về năng lực nhà thầu, kinh nghiệm, cũng như kỹ thuật và giá nêu trong hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu.

Về hình thức đấu thầu tự thực hiện là hình thức đấu thầu được quy định tại Điều 25 của Luật đấu thầu. Trong đó, luật sư tư vấn cho bạn đọc có thể hiểu việc tự thực hiện là hình thức đấu thầu đặc biệt trong đó bên mời thầu, bên dự thầu và người trúng thầu đều là cùng một người. Quy định này có nghĩa là chủ dự án đầu tư tự thực hiện gói thầu của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định như vậy thì sẽ dẫn đến nhiều trường hợp, chủ đầu tư thực hiện dự án là người không có đủ khả năng đáp ứng về mặt kĩ thuật cũng như chuyên môn.

Theo luật sư tư vấn, nếu như họ tự thực hiện thì rất dễ dẫn đến không bảo đảm chất lượng của công trình, dự án, gây thất thoát tiền của nhà nước. Do vậy theo quy định tại Điều 61 Nghị định 63/2014/CP thì việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu và phải đáp ứng các điều kiện: Có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phù hợp với yêu cầu của gói thầu; Phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thực hiện về khả năng huy động nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện gói thầu; Đơn vị được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khối lượng công việc với tổng số tiền từ 10% giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giá gói thầu nhưng trên 50 tỷ đồng.

Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này thì người có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Ngoài ra, đối với các gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm thì có thể áp dụng hình thức tham gia thực hiện của cộng đồng

Trên đây là bài viết luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013. Hy vọng sẽ mang đến những thông tin hữu ích cho quý bạn đọc, đối tác, khách hàng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên: Hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Trong bài viết trước, luật sư tư vấn đã chia sẻ nội dung về phạm vi áp dụng đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013. Bên cạnh việc quy định khác nhau về phạm vi áp dụng đấu thầu thì Luật, Nghị định và Thông tư về đấu thầu còn quy định về hình thức đấu thầu.

Trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi có trao đổi với khách hàng để phân biệt rõ: Nếu như theo Điều 215 Luật thương mại 2005 thì có hai hình thức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đó là đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế thì trong Luật đấu thầu còn quy định thêm 06 hình thức đấu thầu khác bao gồm:

– Chỉ định thầu;

– Chào hàng cạnh tranh;

– Mua sắm trực tiếp;

– Tự thực hiện;

– Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt;

– Tham gia thực hiện của cộng đồng.

Những hình thức này được quy định từ Điều 22 đến Điều 27 Luật đấu thầu. Tuy nhiên, trong bài viết này, để phân tích một cách cô động, súc tích cho người đọc, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ trước 2 hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế.

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì Luật đấu thầu năm 2013 quy định nhiều hình thức đấu thầu hơn so với Luật thương mại 2005.Vậy nguyên nhân do đâu? Theo luật sư tư vấn, nguyên nhân do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu nên Luật đấu thầu đã phải quy định thêm nhiều các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đang mở cửa hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

Thế thì, hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế được Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Điều 20 Luật đấu thầu quy định: “Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự. Đấu thầu rộng rãi được áp dụng cho các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điều 21, 22, 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này”.

Như vậy, nếu phân tích Điều 20 Luật đấu thầu thì chúng ta sẽ hiểu rằng: Luật đấu thầu thừa nhận đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không giới hạn số lượng nhà thầu tham gia, chỉ có “một người mua và nhiều người bán”. Với hình thức đấu thầu này thì bên mời thầu (người mua) sẽ dễ dàng lựa chọn được nhà thầu tốt nhất với giá cả hợp lý nhất trong phiên đấu thầu có nhiều nhà thầu tham dự.

Tuy nhiên, theo luật sư tư vấn thì hình thức này cũng đem lại một số khó khăn cho bên mời thầu như: phải quản lý hồ sơ với số lượng lớn, chi phí cho hoạt động đấu thầu lớn, thời gian để hoàn thành công tác tổ chức đấu thầu dài và có thể xảy ra trường hợp nhà thầu liên kết để đẩy giá trúng thầu.

Để các dự án kinh tế sử dụng vốn nhà nước đạt hiệu quả cao, tiết kiệm thì Luật đấu thầu chỉ cho phép các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này mà không thuộc trường hợp quy định tại các điều từ Điều 21 đến Điều 27 của luật này mới được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi (chịu sự điều chỉnh về ý chí của nhà nước).

Bên cạnh đó, đối với các gói thầu lớn, đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật cao hoặc mang tính đặc thù, chuyên ngành thì việc lựa chọn nhà thầu là rất quan trọng.Thông thường các gói thầu liên quan đến sử dụng vốn nhà nước đều là các gói thầu lớn với mục đích xây dựng các công trình phục vụ cho cộng đồng nên yêu cầu bảo đảm kỹ thuật là tiêu chí quan trọng nhất. Bởi lẽ trên thực tế không phải nhà thầu nào cũng đáp ứng được các yêu cầu mà bên mời thầu đưa ra cho gói thầu. Do vậy, để bảo đảm được chất lượng của gói thầu mà không tốn thời gian, chi phí tổ chức thì Điều 21 Luật đấu tiên 2013 quy định: “Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu”. Với quy định này thì những dự án sử dụng vốn nhà nước đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ một số nhà thầu đáp ứng được yêu cầu về mặt kỹ thuật của gói thầu thì được áp dụng đấu thầu hạn chế.

Trên đây là một số thông tin cơ bản luật sư tư vấn cung cấp đến quý bạn đọc. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ nội dung liên quan đến hình thức đấu thầu khác theo Luật đấu thầu 2013./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thị trường của thế giới, do đó, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên là một hoạt động cần thiết nhằm đáp ứng, giải quyết được những vấn đề cấp bách đặt ra. Trong quá trình tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân, Chúng tôi từng tư vấn cho các hoạt động ở lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ… Trong đó, có nhiều trường hợp, các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng nguồn vốn Nhà nước đã yêu cầu luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên ở lĩnh vực hoạt động đấu thầu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ đến Quý bạn đọc, đối tác, khách hàng về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Theo Khoản 12 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 quy định: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Như vậy, trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên, chúng tôi cũng đã phân tích cho khách hàng hiểu rõ vấn đề, về thực chất thì quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước là một quá trình mua sắm, xây dựng công trình, quá trình chi tiêu, sử dụng vốn Nhà nước. Luật sư tư vấn cũng nêu rõ, về bản chất thì hoạt động đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu 2013 thực chất là hoạt động đấu thầu mang bản chất tư nhưng tính chất công. Đấu thầu trong Luật đấu thầu 2013 sử dụng nguồn vốn Nhà nước để lựa chọn một nhà thầu cho Nhà nước.

Xuất phát từ vai trò là công cụ pháp lý để quản lý nhà nước đối với việc đấu thầu các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước trong mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ tư vấn và xây lắp… Nên theo luật sư tư vấn thì pháp luật đã quy định tại Khoản 1 Điều 1 Luật đấu thầu 2013 các dự án phát triển sử dụng vốn Nhà nước của cơ quan Nhà nước, Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; Dự án đầu tư phát triển có sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; Các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, mua sắm của công, các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất; các dự án đầu tư trong lĩnh vực dầu khí (trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo quy định của pháp luật về dầu khí) thì phải sử dụng Luật đấu thầu để điều chỉnh. Bởi theo luật sư tư vấn một lý do cơ bản là vốn của các dự án này đều được lấy từ nguồn vốn của Nhà nước để chi cho các dự án đầu tư có tính chất công, có nghĩa là mang tính cộng đồng, phục vụ cho lợi ích cho một tập thể trong xã hội hoặc liên quan đến chi tiêu mua sắm của bộ máy Nhà nước.

Trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi cũng nhấn mạnh việc thực tế cho thấy từ việc sử dụng vốn của nhà nước nên không ít trường hợp các cá nhân, người được giao nhiệm vụ thực hiện các dự án này đã gian lận để tham ô chiếm đoạt tài sản của nhà nước, gây thâm hụt và lãng phí ngân sách của nhà nước. Do vậy để tránh thất thoát tài sản của nhà nước, pháp luật đã quy định mọi dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước đều phải thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu. Tức các chủ thể trong đấu thầu đều phải chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước mà không được tự do thỏa thuận.    

Theo Khoản 2 Điều 2 Luật đấu thầu quy định: “Tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này được chọn áp dụng quy định của Luật này. Trường hợp chọn áp dụng thì tổ chức, cá nhân phải tuân thủ các quy định có liên quan của Luật này, bảo đảm công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Nói như vậy, đồng nghĩa là, theo quy định này thì các tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc quy định này thì được chọn áp dụng quy định của Luật đấu thầu và phải tuân thủ theo quy định của Luật này. Như vậy có thể thấy phạm vi áp dụng của Luật đấu thầu rộng hơn các quy định về đấu thầu được quy định trong Luật khác.

Bên cạnh các phạm vi điều chỉnh thì các hoạt động đấu thầu liên quan đến sử dụng nguồn vốn Nhà nước, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên yêu cầu phải tuân thủ các trình tự nghiêm ngặt theo quy định vì Luật đấu thầu không có tính mềm dẻo, chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước. Ngoài ra, Luật đấu thầu còn điều chỉnh cả các hoạt động đấu thầu không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này mà chọn Luật này để điều chỉnh. Trừ trường hợp đối với việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam với nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đó. Trường hợp điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên của Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt với kinh nghiệm trong các lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ,… đã chia sẻ về phạm vi áp dụng hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước. Những bài viết tiếp theo, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác, khách hàng  về các hình thức, phương thức trong hoạt động đấu thầu. Hy vọng rằng những thông tin chúng tôi cung cấp trong lĩnh vực hoạt động đấu thầu sẽ mang đến những kiến thức hữu ích cho quý bạn đọc.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi

Hiện nay trên các trang mạng xã hội hoặc là qua tin nhắn từ điện thoại, người dân thường xuyên nhận được các lời mời cho vay tín chấp với thủ tục rất đơn giản, chỉ cần cung cấp thông tin cá nhân và các mối quan hệ nhân thân, chụp gửi CNMD của người vay tiền. Người đi vay thậm chí không biết địa chỉ trụ sở công ty cho vay tiêu dùng ở đâu…Như vậy, hình thức cho vay tín chấp như trên là đã đúng với quy định pháp luật? Dưới đây là phần chia sẻ của luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi của công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Cho vay tín chấp là một trong những hình thức cho vay rất phổ biến, đây là hình thức cho vay mà người cho vay dựa vào uy tín cá nhân của người vay để cho vay mà không cần tài sản đảm bảo cho khoản vay. Đây là một quan hệ dân sự bình thường thường hay diễn ra trong cuộc sống thường nhật, được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên hiện nay có không ít trường hợp các cá nhân/nhóm cá nhân tổ chức hoạt động cho vay dưới hình thức cho vay tín chấp khá chuyên nghiệp có hệ thống, được tổ chức bài bản với các hành vi mời chào, lôi kéo thông qua mạng xã hội, tờ rơi,…để tìm kiếm và thực hiện giao dịch cho vay đối với người có nhu cầu để thu về lợi nhuận từ tiền lãi có mục đích kinh doanh. Thực tế đây là hình thức kinh doanh dịch vụ cho vay “núp bóng” giao dịch dân sự thông thường thông qua các hợp đồng vay dân sự, không có đăng ký kinh doanh và trái với quy định pháp luật về hoạt động tín dụng.

Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ cho vay nói trên thì bắt buộc phải thành lập tổ chức tín dụng như ngân hàng, công ty tài chính và phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép mới được hoạt động theo quy định của pháp luật về tín dụng.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 25 Luật các tổ chức tín dụng 2010 có quy định để một tổ chức tín dụng được đưa vào hoạt động thì thông tin về Tên, địa chỉ trụ sở chính; Số, ngày cấp Giấy phép, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,… của tổ chức tín dụng đó phải được công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và được đăng trên một tờ báo viết hàng ngày trong 3 số liên tiếp hoặc đăng trên Báo điện tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động.

Theo đó, hình thức cho vay theo như câu hỏi đề cập mà các cá nhân/nhóm cá nhân tổ chức hoạt động cho vay mà không đăng ký, không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép và không đáp ứng các điều kiện khác theo quy định pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật.

Do đó, khi có nhu cầu vay tiền có nguồn tiếp cận từ lời mời cho vay tín chấp như trên, người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin của bên cho vay cũng như xem xét những điều kiện cho vay để tránh các trường hợp bị lừa đảo, cho vay nặng lãi, lừa dối trong giao dịch cho vay,…gây thiệt hại cho người vay.

Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi (Nguồn ảnh: Internet)
Luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi (Nguồn ảnh: Internet)

 

Việc cho vay tiêu dùng với thủ tục đơn giản cũng đã phần nào giải quyết những khó khăn trước mắt của người dân. Tuy nhiên, thực tế đã có không ít người đi vay trở thành “nạn nhân” của cho vay nặng lãi từ các dịch vụ cho vay tiêu dùng trực tuyến. Như vậy, làm thế nào để người dân nhận biết để tránh rơi vào bẫy của cho vay nặng lãi?

Theo luật sư tư vấn, nếu như chú ý đến những dấu hiệu của hành vi cho vay nặng lãi từ những vụ việc về cho vay nặng lãi đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lý thì không quá khó để có thể có thể nhận diện ra hoạt động cho vay nặng lãi. Để tránh “rơi” vào “bẫy” cho vay nặng lãi, trước khi quyết định vay người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin của bên cho vay từ các nguồn thông tin đáng tin cậy, kiểm tra xem hoạt động cho vay này có đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hay không, có được cấp giấy phép cho hoạt động cho vay hay không nếu thông tin của bên cho vay không rõ ràng hoặc chưa được cấp phép theo quy định pháp luật thì cần cân nhắc trước khi vay. Đồng thời người dân nên chú ý đến các đặc điểm thường gặp của hoạt động cho vay nặng lãi như:

+ Về hình thức tiếp cận người vay hay quảng cáo: Thường được thực hiện bằng cách khá sơ sài như dán tờ rơi tại các cột điện, ngã tư, trên tường nhà trong ngõ hẻm hoặc đăng những quảng cáo nhỏ trên các trang web, mạng xã hội với các nội dung như thủ tục đơn giản, nhanh chóng, không cần chứng minh, không cần thế chấp,….

+ Về điều kiện để cho vay thì khá đơn giản như chỉ cần để lại chứng minh thư, bằng lái xe hay thẻ ATM,…

+ Về hợp đồng cho vay: Thường thỏa thuận bằng một hợp đồng vay đơn giản, nội dung mập mờ không nêu rõ các điều khoản cơ bản như: cách thức thanh toán, thời hạn trả nợ, lãi suất, phí phạt, hoặc có trường hợp chỉ thỏa thuận bằng miệng.

+ Về lãi suất: lãi suất cho vay khá cao có khi lên đến hai hoặc ba trăm phần trăm mỗi năm, tiền lãi thường được gộp vào tiền gốc,… Ngoài ra còn có các khoản phạt dẫn đến số tiền phải trả theo kỳ rất cao.

Do đó, người dân nên chú ý những dấu hiệu trên cân nhắc thật kỹ trước khi thực hiện giao dịch vay nhằm tránh cạm bẫy của hoạt động cho vay nặng lãi. Ngoài ra khi có nhu cầu vay người dân nên cân nhắc lựa chọn các hình thức cho vay hợp pháp thông qua các ngân hàng hay công ty tín dụng với mức lãi suất phù hợp theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi trong trường hợp phát hiện hoặc đã là nạn nhân của các đối tượng này, tốt nhất người dân cần làm gì?

Như các bạn đã biết, khi đã sập bẫy của hoạt động cho vay nặng lãi các nạn nhân phải trả số tiền gốc và tiền lãi theo kỳ vốn đã rất cao, trường hợp không thể trả thì số tiền nợ và gốc này sẽ trở thành nợ gốc và tiếp tục quay vào vòng quay tính lãi, nhiều trường hợp số tiền thực tế nạn nhân phải trả lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm lần số tiền vay ban đầu chỉ trong một thời gian ngắn. Đa số các nạn nhân đã sập bẫy cho vay nặng lãi đều khó có thể tự thoát ra do không có khả năng chi trả và do đó họ và gia đình phải đối mặt với các hành vi khủng bố tinh thần, đe dọa, bêu rếu, bắt giữ người, xâm hại đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của các đối tượng cho vay nặng lãi.

Do đó khi phát hiện hành vi cho vay nặng lãi hoặc bản thân là nạn nhân của hoạt động cho vay nặng lãi người dân nên trình báo và phối hợp với cơ quan công an để nhờ sự can thiệp và có biện pháp cũng như có hướng giải quyết theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi theo quy định pháp luật sẽ bị xử lý ra sao?

Hành vi cho vay nặng lãi là hành vi vi phạm quy định pháp luật hình sự. Cụ thể theo quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

– Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự trở lên mà

– Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng

 – Hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này

– Hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Trường hợp Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra cũng cần lưu ý thêm rằng những hành vi cho vay có mức lãi suất cao nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ luật Hình sự nói trên có thể áp dụng quy định pháp luật dân sự, hành chính để xử lý như:

  • Đối với hợp đồng vay dân sự thông thường theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, theo đó thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn nói trên thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
  • Đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản của các tổ chức kinh doanh dịch vụ cho vay, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay sẽ bị phạt vi phạm hành chính từ 5 triệu đồng đến 15 triệu đồng theo quy định tại Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013. 

Đây là bài viết luật sư tư vấn hành vi cho vay nặng lãi của công ty luật TNHH Giải Pháp Việt. Bài viết này được trích từ phần tư vấn cho Kênh VOA FM 89.9 MHz. Hy vọng những chia sẻ trên sẽ mang đến thông tin hữu ích cho Quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp dân sự

Ký sự quê hương: Đầu tư vào Bắc Ninh – Tại sao không?

Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km, cách cảng biển Hải Phòng 110km, là đầu mối quan trọng giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, nằm trên hành lang kinh tế Việt – Trung và trong tam giác tăng trưởng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.

Với định hướng tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh sẽ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, hài hòa giữa khu đô thị và nông thôn, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; chuyển từ phát huy lợi thế so sánh tĩnh sang lợi thế so sánh động và phát huy lợi thế cạnh tranh trong điều kiện mới. Hình thành Trung tâm nghiên cứu triển khai (R&D), Trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao của vùng để đưa Bắc Ninh trở thành Trung tâm phát triển công nghiệp công nghệ cao phía Bắc, tạo bước chuyển biến mạnh về lĩnh vực du lịch, dịch vụ.

Sự năng động cùng nỗ lực không mệt mỏi…

Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư vào 15 trên tổng số 21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó vốn đầu tư tập trung nhiều vào lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo. Đứng thứ hai là lĩnh vực kinh doanh bất động. Hai lĩnh vực này đã chiếm hơn 95% tổng vốn đầu tư đăng ký trên toàn địa bàn tỉnh. Còn lại là một số lĩnh vực khác như xây dựng, dịch vụ lưu trú và ăn uống…

Nhờ đón bắt xu thế phát triển và hội nhập của đất nước để sớm định hình hướng đi và cùng với cách làm riêng, Bắc Ninh đã trở thành nơi hội tụ nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới, kết nối vùng đất Kinh Bắc vào chuỗi liên kết giá trị toàn cầu. Bắc Ninh sớm quy hoạch nhiều khu công nghiệp (KCN) đồng bộ; làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư… Sự năng động cùng nỗ lực không mệt mỏi đã đưa những cánh đồng quê Bắc Ninh trở thành các Khu công nghiệp tập trung hiện đại, thu hút đầu tư. Điều này đã dẫn đến thành công của tỉnh là ở mỗi KCN tập trung đều có một vài tập đoàn đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, có thương hiệu, từ đó đã kéo theo chuỗi các nhà đầu tư vệ tinh, tạo được KCN chuyên ngành và cụm công nghiệp phụ trợ. Tiêu biểu là KCN Quế Võ có Canon, KCN Yên Phong có Samsung…, đều là những tập đoàn lớn của thế giới.

Các dự án FDI – Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhanh chóng…

Bên cạnh những đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội, sự xuất hiện của các dự án FDI đã trở thành nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhanh chóng của hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội gồm giao thông, điện, nước, viễn thông, đặc biệt là hạ tầng các KCN, góp phần phát triển nhanh các khu đô thị, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại…

Điểm khác biệt đáng chú ý khi trên cả nước, số lượng các tập đoàn lớn đầu tư còn khiêm tốn thì các dự án FDI ở Bắc Ninh còn được đánh giá cao về chất lượng nhờ sự đầu tư của nhiều tập đoàn lớn mang thương hiệu toàn cầu như: Canon (Nhật Bản), Samsung (Hàn Quốc), Nokia (Phần Lan), Pepsico (Hoa Kỳ), ABB (Thụy Điển)… Đưa Bắc Ninh trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về mức độ hấp dẫn các dự án FDI.

Nhân chuyến đi công tác tại Bắc Ninh, chuyên viên pháp lý Giải Pháp Việt đã có trải nghiệm thú vị tại vùng đất Bắc Ninh. Với kinh nghiệm và sự hiểu biết về pháp luật cũng như môi trường kinh doanh, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chúng tôi hy vọng rằng, trong tương lai không xa, Bắc Ninh sẽ tiếp tục vươn mình hơn nữa để hội nhập và phát triển./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Ký sự quê hương: Hành trình trên miền đất đỏ Tây Nguyên

Ký sự quê hương: Long An, mảnh đất lành hoa nở

Ký sự quê hương: Tiền Giang – Ấm áp tình người miền sông nước

 

 

Luật sư tư vấn hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội

Hiện nay, rất nhiều người sử dụng mạng xã hội để dùng những thông tin nặc danh nhằm truyền tin, cung cấp những thông tin mang tính vu khống hoặc làm nhục, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín của người khác. Với thực trạng này, đã mang đến những hệ lụy khôn lường cho không ít người. Đối với vấn đề khá “nhức nhối” này, bài viết dưới đây, luật sư tư vấn những quy định pháp luật về xử lý hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội.    

Theo Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật Giải Pháp Việt thì hiện nay, pháp luật Việt Nam có quy định đối với những hành vi sử dụng các trang mạng xã hội để nhắn tin phá rối nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể, tại Khoản 3 Điều 16 của Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 cũng quy định về Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm các nội dung như: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời, tại Điều 9 Luật An ninh mạng quy định, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Luật sư Khưu Thanh Tâm tư vấn pháp luật

Như vậy, xét về khía cạnh xử lý vi phạm hành chính thì pháp luật quy định như thế nào? Theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin thì “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”.

Bên cạnh đó, nếu có đủ căn cứ xác định hành vi quấy rối trên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người bị xúc phạm thì có thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 về Tội làm nhục người khác theo đó có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ hoặc có thể bị phạt tù đến 05 năm” . Ngoài ra, luật sư tư vấn theo Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 cũng quy định về Tội vu khống theo đó nếu vi phạm, tùy theo tính chất, mức độ thì có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc có thể bị phạt tù đến 07 năm.

Chúng ta không phủ nhận, hiện nay, mạng xã hội đã mang đến nhiều tiện ích cho toàn xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng rất nhiều điều phải nói như đang có quá nhiều thông tin không phù hợp và nhiều người lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi đe dọa, vu khống, làm nhục người khác. Vậy nếu trong trường hợp nghệ sĩ, người nổi tiếng hoặc tổ chức, cá nhân bị vu khống, làm nhục trên mạng xã hội, chúng ta cần phải làm gì?

Thực tế, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt cũng đã tư vấn cho nhiều cá nhân rơi vào trường hợp này. Khi gặp phải tình huống trên, cách tốt nhất, chúng ta nên bình tĩnh, tỉnh táo, tránh để dư luận chi phối đến bản thân của chúng ta. Chúng ta cần phân biệt rõ các hành vi đó là gì.

Theo nhận định của luật sư tư vấn, nếu là vu khống thì đó là hành vi Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Còn Làm nhục là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi xúc phạm rất đa dạng phổ biến, nó là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm thực hiện. Khi hành vi này được thực hiện sẽ khiến người bị xúc phạm cảm thấy nhục nhã, tổn thương nặng nề về danh dự, nhân phẩm. Để đánh giá hậu quả người bị xúc phạm có cảm thấy nhục nhã hay không cần dựa trên các yếu tố loại hành vi, mức độ xúc phạm của hành vi; ý thức về việc bị xúc phạm của nạn nhân với hành vi; Dư luận xã hội về hành vi, tác động tâm lý của người bị xúc phạm.

Nếu việc chửi bới, đe dọa người khác làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ rằng, việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì đối tượng thực hiện hành vi được xem là tội phạm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm theo quy định tại Điều 133 bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội đe dọa giết người. Lời đe dọa đó hướng tới một đối tượng nhất định, kể cả trong phần tin nhắn, phần bình luận, hay viết lên trang facebook, zalo của người khác, làm cho họ tin và lo sợ hành vi đó có thể diễn ra thật thì những người này vẫn có thể bị xử lý về hành vi đe dọa giết người.

Trong trường hợp cần thiết, người bị xúc phạm có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại danh dự nhân phẩm do hành vi vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm gây ra cho mình theo điều 604 BLDS 2015 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Ngoài những quy định của pháp luật về xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự mà luật sư tư vấn ở trên, nếu trường hợp ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc thì người bị xúc phạm có quyền trình báo sự việc đến cơ quan công an để tiến hành điều tra, đồng thời cung cấp những chứng cứ đã lưu lại được. Cơ quan công an có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh thông tin chủ tài khoản mạng xã hội, triệu tập những người đó lên làm việc và sẽ có biện pháp xử lý phù hợp nhằm răn đe, cũng như ngăn chặn những hành vi trên.

Chính những lời nói tưởng chừng như chỉ để phán xét người khác lại vô tình giết chết đi những tài năng trẻ, những con người trẻ. Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại những phát ngôn trên mạng xã hội để làm hồi chuông cảnh tỉnh cho sự vô tình đấy. Trên đây là phần tư vấn hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự trên mạng xã hội của Luật sư Khưu Thanh Tâm. Hy vọng những chia sẻ trên mang đến thông tin hữu ích cho quý bạn đọc./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn Giải Pháp Việt và chuyên đề giáo dục an toàn giao thông

Ở Việt Nam việc đội mũ bảo hiểm với người tham gia giao thông bằng xe máy đã là điều bắt buộc từ rất nhiều năm gần đây. Theo Khoản 3, Điều 6 của Nghị định 46 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ thì đã có nêu rõ về quy định đội mũ bảo hiểm với trẻ em: chỉ trẻ em dưới 6 tuổi là không cần đội mũ bảo hiểm, từ 6 tuổi trở lên đều phải được dùng mũ bảo hiểm và cài quai đúng cách. Theo như luật về đội mũ bảo hiểm đối với trẻ em đã nêu ở trên thì đối với các trường hợp trẻ em từ 6 tuổi trở lên không đội mũ bảo hiểm khi ngồi sau xe máy thì người điều khiển phương tiện giao thông đó sẽ bị phạt từ 100.000 – 200.000đ.

Theo nhiều báo cáo và nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì cứ 4 phút trôi qua trên thế giới sẽ có 1 trẻ em bị tử vong có nguyên nhân từ chấn thương vùng đầu khi tham gia giao thông và trong các trò chơi vận động. Riêng ở Việt Nam vào khoảng 2.000 trẻ em tử vong. Trẻ em chiếm gần 20% số lượng người tử vong trong tổng số người tử vong do tai nạn giao thông mỗi năm.

Trong thực tế thì đa số cha mẹ, các bậc phụ huynh đều không quá quan tâm đến vấn đề này lắm vì cho rằng con còn nhỏ thì không cần. Thực trạng này chủ yếu xuất phát từ tâm lý dùng mũ bảo hiểm để đối phó với các cơ quan chức năng hơn là từ nhận thức đảm bảo an toàn cho bản thân và người cùng tham gia giao thông.

Nhận thức được tầm quan trọng trong việc giáo dục cho trẻ em hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc đội mũ bảo hiểm, Luật sư tư vấn Công ty luật TNHH Giải Pháp Việt đã tổ chức hoạt động tuyên truyền và hướng dẫn đội mũ bảo hiểm đúng cách cho học sinh trường tiểu học Phan Văn Trị, Quận 1 vào ngày 7/10/2019. Thông qua đó, công ty luật TNHH Giải Pháp Việt cũng trao tặng 3.000.000 đồng cho Quỹ Khuyến học của trường.

Ms. Trần Kiêm Thanh Hà – Đại diện công ty luật TNHH Giải Pháp Việt trao tặng quỹ khuyến học cho trường Tiểu học Phan Văn Trị – Quận 1.

Một số lưu ý khi đội mũ bảo hiểm cho trẻ:

– Khi đội mũ cho trẻ là phải để phần vành mũ trước song song với chân mày, không bị lệch trái, lệch phải.

– Tiếp theo, phần quai mũ ôm sát phần thùy tai.

– Cuối cùng là cài quai đúng cách, quai không bị xoăn, bị ngược khi cài. Dây mũ nằm cố định, vừa khít dưới phần cằm, không bị lỏng lẻo hoặc siết quá chặt làm bé khó thở.

– Sau 3-6 tháng bạn cũng nên thay mũ bảo hiểm cho trẻ để vừa vặn với sự phát triển của cơ thể trẻ.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Cảnh sát cơ động có được dừng xe kiểm tra hành chính vào ban đêm?

Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

Hiện nay, có rất nhiều người dân lúng túng khi gặp phải trường hợp cảnh sát cơ động yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Người dân cũng thắc mắc và có những ý kiến xoay quanh vấn đề: Căn cứ vào quy định nào để cảnh sát cơ động có thể yêu cầu dừng xe và kiểm tra. Dưới đây là  tư vấn của Luật sư Khưu Thanh Tâm (Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt) với phóng viên báo Pháp luật Online.

Căn cứ theo Điều 3 Pháp lệnh Cảnh sát cơ động 2013 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, Cảnh sát cơ động thuộc Công an nhân dân, là lực lượng nòng cốt thực hiện biện pháp vũ trang bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 7, Thông tư 58/2015/TT-BCA, quy định Cảnh sát cơ động thực hiện những nhiệm vụ như sau:

– Chấp hành nghiêm sự chỉ huy, chỉ đạo của cấp trên và kế hoạch, phương án tuần tra, kiểm soát đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

– Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi khu vực, mục tiêu, tuyến, địa bàn tuần tra, kiểm soát; phát hiện, ngăn chặn và xử lý hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật.

– Phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an nhân dân đấu tranh phòng, chống tội phạm và hành vi vi phạm khác thuộc khu vực, mục tiêu, tuyến, địa bàn được phân công tuần tra, kiểm soát.

– Báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức liên quan có biện pháp khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.

Ngoài ra, tại Điều 8 và Điều 9 Thông tư 58/2015/TT-BCA quy định: Kiểm soát người, phương tiện, đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát là một trong các quyền hạn của lực lượng Cảnh sát cơ động. Đối tượng tuần tra gồm: khu vực, mục tiêu, tuyến, địa bàn được phân công với đối tượng kiểm soát là người, phương tiện, đồ vật, tài liệu. Bên cạnh đó, các trường hợp được dừng phương tiện thì căn cứ theo Điều 12 Thông tư số 01/2016/TT-BCA.

Như vậy, theo các căn cứ đã phân tích như trên thì lực lượng Cảnh sát cơ động được phép dừng xe để kiểm tra hành chính khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên; theo kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên hoặc phải có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp.

Trích tư vấn của Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm (Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt).

Share

Xử lý khi mất giấy phép liên vận Việt Nam và nước ngoài?

Khi giấy phép liên vận giữa Việt Nam và nước ngoài hết hạn hoặc quá thời gian lưu hành vì lý do chính đáng thì sẽ được gia hạn một lần với một khoảng thời gian cụ thể để có thể khắc phục, đồng thời xe bị mất phù hiệu thì phải xử lý như thế nào?

Trả lời cho câu hỏi trên, Luật sư tư vấn, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm (Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt) cho biết: Giấy phép liên vận giữa Việt Nam và nước ngoài là loại giấy phép cấp cho các phương tiện cơ giới bằng đường bộ qua lại biên giới thông qua thỏa thuận giữa Việt Nam và các nước tương ứng. Theo đó, tùy vào thỏa thuận giữa Việt Nam và quốc gia giao kết mà loại giấy phép liên vận; đối tượng, thời gian được phép tại ngoại và các vấn đề khác liên quan sẽ khác nhau.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Khi giấy phép liên vận giữa Việt Nam và nước ngoài hết hạn hoặc quá thời gian lưu hành vì lý do chính đáng thì sẽ được gia hạn một lần với một khoảng thời gian cụ thể để có thể khắc phục. Ví dụ: đối với giấy phép liên vận CLV thì phương tiện của Lào, Campuchia gặp trường hợp bất khả kháng (thiên tai, tai nạn giao thông, hỏng phương tiện không thể sửa chữa tại Việt Nam) được gia hạn một lần với thời hạn không quá 10 (mười) ngày, kể từ ngày hết hạn theo khoản 1 Điều 12 Thông tư 63/2013/TT-BGTVT ban hành ngày 31-12-2013 hướng dẫn thực hiện một số điều của Bản ghi nhớ giữa chính phủ các nước Vương quốc Campuchia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vận tải đường bộ.

Bên cạnh đó, Thông tư số 88/2014/TT-BGTVT ngày 31-12-2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của hiệp định và nghị định thư thực hiện hiệp định tạo điều kiện thuận lợi cho phương tiện cơ giới đường bộ qua lại biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Thông tư số 39/2015/TT-BGTVT ngày 31-7-2015 hướng dẫn thi hành một số điều của hiệp định và nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia quy định: Giấy phép liên vận Việt Nam – Lào, Việt Nam – Campuchia có bao gồm phù hiệu liên hệ. Phương tiện cơ giới khi qua biên giới bằng hai loại giấy phép này phải gắn Biển ký hiệu phân biệt quốc gia và phù hiệu liên vận do các cơ quan có thẩm quyền cấp cùng với việc cấp giấy phép liên vận (đối với giấy phép liên vận CLV thì không có phù hiệu liên vận mà chỉ có biển ký hiệu phân biệt quốc gia). Nếu không gắn biển ký hiệu phân biệt quốc gia hoặc phù hiệu liên vận thì sẽ bị phạt theo quy định của pháp luật. Trường hợp xe bị mất phù hiệu liên vận, ký hiệu phân biệt quốc gia, giấy phép hay hết thời hiệu của giấy phép cần phải báo cho cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn cấp lại.

Mặt khác, căn cứ theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt ban hành ngày 26-5-2016. Người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ sẽ bị xử phạt nếu vi phạm các hành vi như sau:

  • Hành vi điều khiển xe vận chuyển hành khách liên vận quốc tế không có hoặc không có gắn ký hiệu phân biệt quốc gia, phù hiệu liên vận theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng phù hiệu không do cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ bị phạt tiền 3-5 triệu đồng (cơ sở pháp lý điểm e khoản 6 Điều 23).
  • Hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gắn biển số nước ngoài không gắn ký hiệu phân biệt quốc gia theo quy định sẽ bị phạt từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng (theo điểm a khoản 1 Điều 35).
  • Hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gắn biển số nước ngoài không có giấy phép vận tải quốc tế, phù hiệu vận tải quốc tế liên vận theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng sẽ bị phạt tiền 3-5 triệu đồng (theo điểm c khoản 2 Điều 35).

Trích tư vấn của Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm (Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt).