Doanh nghiệp rút ra được bài học gì từ dịch COVID-19?

Theo luật sư tư vấn của Giải Pháp Việt trong bối cảnh sự bùng phát dịch COVID-19 gây ra ở thời điểm hiện tại thì đâu là những bài học mà các doanh nghiệp có thể rút ra?

Ảnh minh họa (nguồn Internet)

 

Bài học số 1: Những chương trình khuyến mại hàng hóa, những đợt giảm giá các mặt hàng nên được điều chỉnh phù hợp với những thay đổi trong nhu cầu và nguồn cung của chính các công ty.

Một số ngành nghề nhất định sẽ được “hưởng lợi” từ dịch COVID-19 này. Những ngành nghề cung cấp các trang thiết bị chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vệ sinh và lau dọn, các chương trình giải trí trực tuyến và các dịch vụ giao nhận hàng hóa đã ghi nhận nhu cầu tăng vọt đối với các sản phẩm và dịch vụ của mình.Trong khi các ngành nghề này có thể tính đến việc tăng giá trong giai đoạn trước mắt, thì họ cũng nên cần phải cẩn trọng và nhạy cảm đối với những phản ứng và sự thấu hiểu của dư luận người dân đối với việc kiếm lợi từ cuộc khủng hoảng.

Tuy nhiên, hầu hết các công ty, chắc chắn sẽ chứng kiến sự suy giảm nói chung trong hoạt động và kinh doanh. Các ngành công nghiệp du lịch, nhà hàng khách sạn và bán lẻ nằm trong số những lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất. Các doanh nghiệp trong những lĩnh vực này cần phải chấp nhận những đợt khuyến mại lớn, những đợt “trao tặng” hàng hóa để có thể tiếp cận người tiêu dùng.

Ví dụ như nhiều nhà hàng đã phải điều chỉnh các thực đơn của mình để đưa ra và cung cấp những lựa chọn có lợi hơn cho sức khỏe và thúc đẩy các hoạt động giao nhận trực tuyến. Một số nhà cung cấp dịch vụ y tế sức khỏe và giáo dục hiện tại đã và đang cung cấp trực tuyến một phần dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác.

Một tác động rõ ràng đối với nhiều doanh nghiệp chính là sự gián đoạn trong các chuỗi cung ứng. Các công ty, doanh nghiệp có tính chủ động đang phân tích những tác động hiện tại và trong tương lai của vấn đề này, đồng thời đang tái cơ cấu, điều chỉnh các mô hình nguồn cung và các chuỗi cung ứng để đảm bảo yếu tố linh hoạt và khả năng tự phục hồi. Quãng thời gian tăng trưởng chững lại cũng là một cơ hội cho việc đào tạo và phát triển kỹ năng, tay nghề cho nhân viên, và cũng giúp cho việc lên kế hoạch được dài hơi hơn.

Bài học số 2: Thời điểm hiện tại đang là cơ hội tốt để suy nghĩ xem xét và có những hành động về những vấn đề mà các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý các công ty, doanh nghiệp trước đây chưa có nhiều thời gian để tập trung vào.

Một trong những vấn đề cần được xem xét chính là yếu tố “năng lực tự phục hồi”. Ngoài việc lên kế hoạch tiếp tục hoạt động kinh doanh, các công ty, doanh nghiệp cần phải tìm cách “đa dạng hóa”. Các nguồn lực được đa dạng hóa sẽ cho phép tiếp tục công việc khi một bộ phận của lực lượng lao động trở nên “bị vô hiệu hóa”. Các nguồn doanh thu được đa dạng hóa sẽ cho phép công ty, doanh nghiệp “không bị chết chìm” khi kinh doanh bị đình trệ do tác động từ cuộc khủng hoảng.

Một vấn đề khác nữa là yếu tố kỹ thuật công nghệ. Khi con người không thể đi lại hoặc gặp gỡ nhau giữa các nhóm người, họ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào kỹ thuật công nghệ giao tiếp để có thể duy trì liên lạc và hoàn tất công việc. Khi người dân ở nhà, họ sẽ tham gia vào các chương trình trò chơi trực tuyến và sử dụng hình thức thương mại điện tử để mua bán hàng hóa tiêu dùng gia đình. Một số công ty, doanh nghiệp cũng đã thiết lập các ủy ban kiểm soát khủng hoảng để lên kế hoạch, điều phối và thực thi các biện pháp để ngăn ngừa, phòng chống dịch COVID-19.

Có lẽ họ có thể cân nhắc thành lập các “ủy ban thời cơ khủng hoảng” để tìm ra cách thức bảo vệ doanh thu, lợi nhuận cũng như hiện thực hóa các “ích lợi” mà dịch bệnh này đem lại, trong khi đồng thời nắm rõ những tác động và hậu quả của nó đối với các mô hình kinh doanh.

Ảnh minh họa (nguồn: Internet)

Bài học số 3: Doanh nghiệp cần đề xuất bổ sung các quy định trong Bộ luật Lao động  để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay đang chuyển biến ngày một phức tạp.

Cân nhắc việc xây dựng quỹ “tiền lương dự phòng” của doanh nghiệp. Quy định này được hình thành lúc doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi và có một phần đóng góp của người lao động, quỹ này chỉ được sử dụng khi doanh nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… hoặc những lý do bất khả kháng khác mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm giờ làm việc, cho nghỉ luân phiên…

Bên cạnh đó, do dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp phải huỷ đơn hàng, hoặc bị phạt chậm giao hàng, không đạt kế hoạch sản xuất kinh doanh… Do vậy, cần có quy định theo hướng cho phép doanh nghiệp bố trí người lao động làm thêm giờ cao hơn quy định hiện hành, linh hoạt hơn để bù đắp phần gián đoạn do dịch bệnh. Tất nhiên, làm thêm giờ này vẫn được chi trả cho người lao động theo quy định hiện hành. Các trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Doanh nghiệp tạo điều kiện áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà… để giữ, chăm sóc con trong tình hình dịch bệnh.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Việc không khai báo y tế trung thực về Covid-19 có vi phạm pháp luật?

Hiện nay dịch bệnh Covid-19 được phân loại vào nhóm A là nhóm gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

 

Theo Điều 8 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, quy định những hành vi bị nghiêm cấm đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm gồm: Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Nói về hành động trốn cách ly của cô gái về từ vùng có dịch tại Hàn Quốc, hành vi của cô gái là cố ý vi phạm pháp luật nên cần phải xem xét xử lý đúng quy định.Trong trường hợp này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Pháp luật Việt Nam quy định mức xử phạt cho hành vi này là như thế nào? 

Theo Điều 10 của Nghị định 176/2013/NĐ-CP Vi phạm quy định về cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế cụ thể tại Khoản 2 Điều này nêu rõ:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

– Không tổ chức thực hiện việc cách ly y tế đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

– Từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, đối tượng kiểm dịch y tế biên giới mắc bệnh hoặc mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định với hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người khác thì người vi phạm còn có thể bị xử lý về hình sự. Cụ thể, tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm c Khoản 1 Điều 240 về Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, quy định:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế; Làm chết người.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm: Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; Làm chết 02 người trở lên và người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp cô gái khai báo gian dối ở sân bay Tân Sơn Nhất, có lẽ cô ấy không nghĩ đến hậu quả của việc mình làm, giả sử nếu có hậu quả nghiêm trọng xảy ra sẽ cấu thành tội phạm, đủ điều kiện bị xử lý thì vẫn bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

Từ sự việc này, các cơ quan chức năng đặc biệt là bộ phận kiểm soát ở các sân bay quốc tế và chính quyền địa phương cần có cơ chế làm việc chặt chẽ để kiểm soát được nguy cơ lây lan dịch bệnh. Vì vậy, người dân nên nâng cao ý thức, trách nhiệm, có bệnh cần phải tự giác trung thực và đặc biệt phải hiểu rằng cách ly trước hết là vì quyền lợi của chính bản thân mình. Sau đó là quyền lợi của gia đình và cộng đồng xã hội./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Đừng lợi dụng dịch viêm phổi nhiễm virus Corona để trục lợi

Trong thời gian này, khi dịch viêm phổi nhiễm virus Corona đang có những diễn biến phức tạp, đe dọa ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng thì việc chính quyền, các lực lượng chức năng can thiệp, xử lý hành vi găm hàng, tăng giá bán bất hợp lý hoặc hành vi đầu cơ, tích trữ các loại hàng hóa thiết yếu để phòng dịch như khẩu trang, nước rửa tay sát khuẩn, xử lý hành vi sản xuất dung dịch rửa tay pha cồn với nước là hành động rất cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Tính riêng ngày 10/02, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra, giám sát 65 cơ sở kinh doanh, sản xuất thiết bị y tế vi phạm, trong đó xử lý 14 cơ sở, xử phạt 4.500.000 đồng, tạm giữ 123.415 chiếc khẩu trang, 1.756 chai gel nước rửa tay và 150kg nước rửa tay khô.

Cộng dồn từ ngày 31/1 đến ngày 10/2/2020, lực lượng Quản lý thị trường cả nước đã kiểm tra, giám sát, xử lý 3.659 nhà thuốc, cửa hàng kinh doanh thiết bị y tế vi phạm.

Đừng lợi dụng dịch viêm phổi nhiễm virus Corona để trục lợi

Theo Luật sư tư vấn pháp lý của công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt hành vi găm hàng, tích trữ, tăng giá bán khẩu trang, dung dịch rửa tay sát khuẩn và sản xuất dung dịch rửa tay pha cồn với nước để bán trục lợi khi dịch viêm phổi nhiễm virus corona đang xảy ra là những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Đối với hành vi găm hàng, đầu cơ hàng hóa tức là việc các chủ cơ sở kinh doanh có khẩu trang, nước rửa tay sát khuẩn nhưng cố tình không bán cho người dân có nhu cầu mua, hay có hành vi mua vét, mua gom hàng hóa nhằm bán lại thu lợi bất chính, các hành vi này đã vi phạm các quy định về hoạt động thương mại và bảo vệ người tiêu dùng.Chế tài xử lý các hành vi này được quy định tại Nghị định 185/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP và Nghị định số 141/2018/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (gọi tắt là Nghị định 185/2013/NĐ-CP).

Hành vi găm hàng được quy định cụ thể tại Điều 47 Nghị định 185/2013/NĐ-CP. Theo Khoản 2 Điều này quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây khi thị trường có biến động về cung cầu, giá cả hàng hóa do dịch bệnh mà không có lý do chính đáng: Cắt giảm lượng hàng hóa bán ra thị trường; Ngừng bán hàng hóa ra thị trường; Không mở cửa hàng, địa điểm giao dịch kinh doanh để bán hàng; Mở cửa hàng, địa điểm giao dịch kinh doanh nhưng không bán hàng.

Mặt khác, theo Khoản 3 Điều 47 quy định “cơ sở kinh doanh sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi găm hàng trong kho vượt quá 150% so với lượng hàng hóa tồn kho trung bình của ba tháng liền kề trước đó”.

Ngoài ra, cơ sở kinh doanh có hành vi găm hàng như trên còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm và tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm theo Khoản 4 Điều 47.

Về trường hợp đầu cơ hàng hóa, Điều 46 Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hàng hóa hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hóa giả tạo trên thị trường để mua vét, mua gom hàng hóa có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhằm bán lại thu lợi bất chính khi thị trường có biến động về cung cầu, giá cả hàng hóa do dịch bệnh.
Mức phạt tiền có thể tăng lên tùy thuộc vào giá trị của hàng hóa bị đầu cơ, tích trữ, theo đó nếu hàng hóa bị đầu cơ, tích trữ có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên, mức phạt cao nhất được áp dụng là từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Ngoài ra, cơ sở vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật; tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề từ 06 tháng hoặc đến 12 tháng trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm; đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa vi phạm từ 06 tháng đến 12 tháng trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm. Đồng thời cơ sở kinh doanh bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi đầu cơ, tích trữ bất hợp pháp đó.

Cá nhân hoặc pháp nhân thương mại nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình dịch bệnh mua vét hàng hóa nhằm bán lại để thu lợi bất chính còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đầu cơ theo quy định tại Điều 196 Bộ luật hình sự 2015. Tuy nhiên, theo Điều 196 BLHS 2015, để cấu thành Tội đầu cơ thì hàng hóa được mua vét trong tình hình dịch bệnh phải là hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá. Theo quy định của Luật giá 2012 (Điều 15, Điều 19) và Nghị định 177/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật giá thì khẩu trang y tế, nước rửa tay sát khuẩn không thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá và cũng không thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá. Do vậy, việc mua vét khẩu trang y tế, nước rửa tay sát khuẩn chưa đủ yếu tố để cấu thành Tội đầu cơ theo quy định hiện hành, mà các hành vi này cần thiết phải bị xử lý nghiêm bởi các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong các quy định nêu trên.

Trong trường hợp thật sự cần thiết, cấp bách phải xử lý trách nhiệm hình sự về Tội đầu cơ đối với hành vi nêu trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xem xét đưa mặt hàng khẩu trang, nước rửa tay sát khuẩn vào danh mục hàng hóa thực hiện bình ổn giá. Theo Điều 15 Luật giá 2012 quy định của, trường hợp cần thiết phải điều chỉnh Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Vậy trường hợp tăng giá bán khẩu trang, dung dịch rửa tay sát khuẩn thì xử lý như thế nào?

Theo Luật sư tư vấn, nhiều cơ sở kinh doanh còn tăng giá bán khẩu trang bất hợp lý gấp nhiều lần giá giao dịch thông thường trong thời gian liền kề trước đó để trục lợi. Hành vi này đã vi phạm các quy định về quản lý giá của nhà nước.

Cụ thể, Khoản 2, Điều 10 Luật Giá 2012 nghiêm cấm tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh lợi dụng tình hình dịch bệnh để định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, thông đồng về giá dưới mọi hình thức để trục lợi.

Điều 17 Nghị định 109/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và điều kiện bất thường khác, lợi dụng chính sách của Nhà nước để định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý. Đồng thời còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi do định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý.

Ngoài những vấn đề liên quan đến việc lợi dụng mùa dịch Corona để găm hàng, đầu cơ, tăng giá sản phẩm thì có không ít trường hợp, các cơ sở kinh doanh sản xuất dung dịch rửa tay sát khuẩn bằng cách  pha loãng cồn với nước để bán ra thị trường. Đối với trường hợp này, theo Luật sư nếu xác định số tiền người bán trục lợi dưới 30 triệu đồng thì sẽ xử phạt hành chính theo Điều 10 Nghị định 185/2013 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng.

Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ và hành vi mà người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Sản xuất, buôn bán hàng giả, quy định tại Điều 192 Bộ luật Hình sự nếu trị giá hàng hóa làm giả theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn từ 30 triệu đồng trở lên.

Người bị truy cứu theo Điều 192 Bộ luật Hình sự sẽ bị phạt tiền tối đa 1 tỷ đồng hoặc bị phạt tù cao nhất 15 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Chấm dứt hợp đồng lao động tại doanh nghiệp

Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự kiện pháp lý xảy ra khi một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện HĐLĐ và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao động có thể ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của người lao động (NLĐ), và từ đó tác động đến cuộc sống của bản thân và gia đình họ. Mặt khác, còn ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Vì vậy, pháp luật quy định chặt chẽ về các căn cứ (sự kiện pháp lý) dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động và hậu quả của việc chấm dứt này.

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 (BLLĐ) hiện hành thì có 10 trường hợp dẫn đến sự kiện chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 36 BLLĐ. Sau đây, Luật sư tư vấn Giải Pháp Việt gửi đến Quý độc giả các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động , cụ thể như sau:

Hợp đồng lao động chấm dứt do hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của BLLĐ:

Thời hạn HĐLĐ do hai bên thỏa thuận khi giao kết HĐLĐ và nó là một trong những nội dung chủ yếu của HĐLĐ. Trong một hợp đồng có quy định thời hạn nhất định thì việc kết thúc thời hạn đó sẽ là cơ sở cho việc chấm dứt.

Riêng đối với NLĐ là cán bộ công đoàn kiêm nhiệm, khi HĐLĐ hết hạn mà chưa hết nhiệm kỳ công đoàn thì NLĐ này được quyền tiếp tục làm việc cho đến khi hết nhiệm kỳ công đoàn. Đối với một vài trường hợp lại có sự điều chỉnh riêng, cụ thể là ở Khoản 2 Điều 22 BLLĐ có chỉ ra với việc hết hạn của các loại hợp đồng nhưng NLĐ vẫn tiếp tục làm việc và NSDLĐ không phản đối thì hai bên phải ký lại một hợp đồng mới, nếu không thì tùy theo hợp đồng trước đó là có thời hạn sẽ chuyển sang không thời hạn, còn theo hợp đồng thời vụ thì chuyển sang HĐLĐ có thời hạn 24 tháng.

Như vậy, trong trường hợp không có nhu cầu tiếp tục hợp đồng, NSDLĐ phải thông báo bằng văn bản cho NLĐ biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động và các bên phải hoàn thành các công tác bàn giao và thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhau các khoản lương, trợ cấp khác theo thỏa thuận.

Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động:

Một trong những nội dung chính của HĐLĐ là công việc mà NLĐ phải thực hiện, theo đó, NLĐ cần dùng sức lao động của mình đáp ứng yêu cầu đó. Khi NLĐ đã hoàn thành được công việc theo như mô tả của HĐLĐ thì hợp đồng sẽ chấm dứt.

Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động:

Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động có thể xuất hiện ở NLĐ hoặc NSDLĐ. Bên có nhu cầu có quyền đề nghị việc chấm dứt hợp đồng lao động với bất kỳ lý do gì và nếu được bên còn lại chấp nhận thì sẽ chấm dứt. Trường hợp này, nếu một trong hai bên không đồng ý chấm dứt thì hợp đồng trên vẫn tiếp tục được thực hiện.

Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định Điều 187 BLLĐ:

Theo khoản 4 Điều 36 BLLĐ, HĐLĐ chấm dứt khi đáp ứng đủ điều kiện sau:

– Đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội;

– Đủ tuổi hưởng lương hưu (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi).

Như vậy, NLĐ đáp ứng được hai điều kiện trên thì mới thuộc trường hợp chấm dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự hợp lý khi đã quy định tuổi nghỉ hưu nhưng họ không thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì chưa đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Điều này cũng gây lúng túng cho doanh nghiệp trong vấn đề ký kết HĐLĐ với NLĐ gần đến tuổi nghỉ hưu.

Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án:

 Đây là trường hợp HĐLĐ đương nhiên chấm dứt mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia hợp đồng. Theo đó, khi NLĐ rơi vào các trường hợp này, họ bị hạn chế một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của bản thân dẫn đến không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để thực hiện đảm bảo yêu cầu công việc về thời gian, chất lượng công việc hoặc không đủ tư cách để thực hiện công việc.

Người lao động chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết:

NSDLĐ ký kết HĐLĐ với NLĐ khi họ có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và vì có nhu cầu sử dụng sức lao động của NLĐ, loại “hàng hóa đặc biệt” gắn liền với NLĐ. Do đó, khi họ chết hoặc mất tích hay không còn năng lực hành vi dân sự thì NSDLĐ sẽ không thể sử dụng hàng hóa sức lao động, NLĐ cũng không thể đáp ứng yêu cầu của NLĐ. Theo đó, HĐLĐ sẽ đương nhiên chấm dứt.

 Quy định tại Khoản 7 Điều 36 BLLĐ 2012

“Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động” được xem là trường hợp đương nhiên chấm dứt HĐLĐ. Thực tế, có hai yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại của HĐLĐ là đối tượng và chủ thể của hợp đồng. Do đó, khi chủ thể thực hiện không tồn tại thì HĐLĐ cũng không thể tiếp tục duy trì mà sẽ mặc nhiên chấm dứt trên thực tế.

Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của BLLĐ 2012:

Khi NLĐ không đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc sai phạm trong công việc xuất phát từ vi phạm quy định của công ty (điều lệ, hợp đồng lao động, nội quy…). Tùy thuộc vào mức độ sai phạm, mức độ thiệt hại mà NSDLĐ có thể chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ theo thỏa thuận trong HĐLĐ.

Khoản 9 Điều 36 là quy định về Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ:

Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ là khả năng xử sự của NLĐ được pháp luật thừa nhận, cho phép tự ý chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn mà không cần thiết phải có sự đồng ý của NSDLĐ. Tại Điều 37 của BLLĐ quy định quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ phải đảm bảo 2 điều kiện: Trong những trường hợp nhất định theo quy định PL và Tuân thủ thời hạn báo trước. Riêng đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn thì chỉ cần báo trước 45 ngày mà không cần lý do.

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 10 Điều 36 BLLĐ:

Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ trong những trường hợp:

NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ;

NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với NLĐ làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của NLĐ bình phục, thì NLĐ được xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ;

Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này. Ngoài ra, NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã./.

Theo Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Để trở thành công ty luật uy tín

Vài năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã có bước khởi sắc và đang trên con đường phát triển, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Sự hội nhập này đã làm thay đổi tư duy, nhận thức của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước. Để phòng tránh những rủi ro về mặt pháp lý, cá nhân, các tổ chức đã chủ động tìm kiếm các công ty luật uy tín cũng như sử dụng dịch vụ pháp lý như một “tấm khiên chắn” bảo vệ họ khi cần thiết. Chính vì thế, dịch vụ pháp lý ở các hãng luật, công ty luật đã có những bước chuyển mình rõ rệt, thị trường tư vấn pháp luật do vậy cũng trở nên cạnh tranh hơn bao giờ hết. Những hãng luật, công ty luật uy tín hàng đầu đã thay đổi những quy định, chính sách chặt chẽ, phù hợp hơn với xu hướng hiện nay. Bên cạnh đó, các công ty luật mới thành lập cũng có nhiều bước đi khác nhau về chuyên môn, phí dịch vụ trong hoạt động kinh doanh, quản trị doanh nghiệp với hy vọng sẽ thu hút được nhiều hơn số lượng khách hàng. Vậy, câu hỏi đặt ra, với thị trường mở rộng và cạnh trạnh khốc liệt như hiện nay, các hãng luật, công ty luật phải làm thế nào để trở thành công ty luật uy tín?

Để trở thành công ty luật uy tín

Thực tế hiện nay, trong khi nhiều hãng luật, công ty luật đã nhanh chóng vươn lên khẳng định vị thế của mình và không ngừng phát triển thì bên cạnh đó cũng có không ít những tổ chức hành nghề vẫn đang tìm hướng đi cho mình. Các công ty luật đã cố gắng chứng minh cho khách hàng thấy những khó khăn của họ có thể được giải quyết nhờ vai trò của luật sư tư vấn pháp lý. Theo quan điểm của Chúng tôi, chính sự năng động, nhạy bén trong công tác quản trị của các tổ chức hành nghề luật sư kết hợp với việc đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng của các công ty luật sẽ là những yếu tố quyết định đến sự sống còn và phát triển của công ty trong thị trường pháp lý hiện nay.

Công tác quản trị – Nội lực của công ty luật uy tín

Chúng tôi từng hỏi: “Nguyên nhân vì sao lại khiến các tổ chức hành nghề luật sư không thể phát triển lớn mạnh?”. Nó có thể bắt nguồn từ việc chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm, chiến lược phát triển… Nhưng nguyên nhân lớn nhất bắt nguồn từ chính công tác quản trị của công ty. Trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn thấy một sự thật rằng “Quản trị một doanh nghiệp vốn đã khó, nhưng nay, quản trị một tổ chức hành nghề luật sư càng khó khăn hơn rất nhiều do tính chất đặc thù của lĩnh vực nghề nghiệp”. Vậy để công tác quản trị thực sự trở thành nội lực của công ty luật uy tín, cần phải tập trung những vấn đề gì?

Chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp và đặt con người ở vị trí trung tâm

Đối với các tổ chức hành nghề luật sư, văn hóa doanh nghiệp được xem là những giá trị cốt lõi, những nét đặc sắc riêng biệt tạo nên bản sắc riêng có của tổ chức đó. Văn hóa doanh nghiệp đặt mỗi cá nhân trong tổ chức đó trước những tiêu chuẩn, quy chuẩn khắt khe về tác phong làm việc, sinh hoạt và ứng xử hằng ngày. Đó chính là chất keo gắn kết mọi người và góp phần tạo dựng hình ảnh của tổ chức trong mắt khách hàng, công chúng. Bên cạnh đó cần có đội ngũ cộng sự mạnh, có trí tuệ, năng lực, kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu hoặc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để có thể cung cấp dịch vụ pháp lý đa dạng, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Chính sự chuyên nghiệp và gắn kết của Luật sư điều hành sẽ tạo nên sức mạnh của tổ chức hành nghề luật sư. Vì vậy, ngoài kỹ năng quản trị của một doanh nhân, người quản trị tổ chức hành nghề luật sư cần điều hành tổ chức của mình trên nguyên tắc tôn trọng sự công bằng, khách quan, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp đồng thời phải khơi gợi, gắn kết và phát huy được sức mạnh tập thể của mọi thành viên trong tổ chức.

Kiên định mục tiêu và chuyên biệt hóa trách nhiệm của từng thành viên quản trị

Các vấn đề nội bộ, nguyên tắc hợp tác và quản trị công ty luôn cần đạt được sự thống nhất và cần được xem đó là luật cơ bản để duy trì sự hợp tác, phát triển lâu dài của công ty luật uy tín. Nhưng đó cũng chính là thử thách rất lớn đối vơi các Luật sư sáng lập và quản lý các hãng luật, công ty luật uy tín đó. Mô hình nào cũng chỉ đưa lại thành công khi người quản lý kiên định với những mục tiêu, chiến lược đã đề ra. Song song đó, có nhiều Luật sư, khi làm nghề, họ rất xuất sắc, tuy nhiên khi chuyển sang là người quản trị công ty luật, họ nhận thấy mình không còn đủ sự tĩnh tâm để suy nghĩ thấu đáo về mặt chuyên môn. Tâm trí họ bị sao lãng bởi những công việc mang tính chất xúc tiến, cho những cuộc gặp, những trao đổi mang tính chất thỏa thuận về giá của dịch vụ pháp lý.

Trên thực tế, trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhiều công ty luật đã có sự phân công trách nhiệm quản lý như Luật sư chuyên phụ trách về xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh công ty; Luật sư chuyên về quản trị nội bộ và Luật sư chuyên sâu trong từng lĩnh vực, dịch vụ pháp lý cụ thể. Việc phân chia rõ ràng này đã tạo điều kiện để hoạt động của công ty được ổn định hơn. Sự phân công này cũng tối ưu hóa được năng lực của từng nhân sự quản lý và gia tăng sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Luật sư.

Liên kết lại – nhìn xa hơn

Tại Việt Nam, sự kết hợp giữa các tổ chức hành nghề Luật sư phần lớn chỉ mang tính vụ việc, nghĩa là hãng luật này chuyển giao một phần hoặc toàn bộ một vụ việc của khách hàng sang cho hãng luật khác. Việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài/ “outsource” này mang tính đơn lẻ, riêng lẻ và không thường xuyên. Khi còn mang tâm lý “sợ” mất khách hàng, cạnh tranh để có được khách hàng thì Luật sư quản trị sẽ không thấy được lợi ích của sự hợp tác giữa các hãng luật, công ty luật khác nhau với những ưu thế và sự chuyên sâu về một hoặc một số dịch vụ pháp lý. Sự hợp tác này cần được nhìn nhận như một mối quan hệ cộng sinh, được xây dựng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của khách hàng cũng như góp phần đem lại lợi nhuận lớn hơn trong kinh doanh cho tổ chức hành nghề Luật sư.

Ngoài ra, các tổ chức hành nghề luật sư cũng cần chú trọng ứng dụng những công nghệ mới hoạt động tư vấn và công việc hành chính hàng ngày. Việc thiết lập hệ thống hoá đơn điện tử (e-billing), hệ thống quản lý văn bản, lưu giữ thông tin, phần mềm quản lý khách hàng…là những công việc cần thiết được triển khai ngay với những ứng dụng công nghệ mới nhất. Những tiện ích của các phần mềm, chương trình công nghệ sẽ góp phần nâng cao tính hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý, mặt khác sẽ giảm thiểu chi phí cho khách hàng. Nhiều công ty luật sau khi ứng dụng thành công những tiện ích về công nghệ đã không những gia tăng uy tín dịch vụ của mình mà còn giảm được chi phí quản lý, thuê nhân viên hỗ trợ.

Ngoài công tác quản trị tốt, vậy thì một công ty luật uy tín sẽ làm cách nào để đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng?

Hiểu rõ khách hàng là điều tiên quyết

Để duy trì tính cạnh tranh và tiếp tục có được niềm tin từ phía khách hàng, các công ty luật cần có những hiểu biết sâu rộng và kỹ lưỡng về khách hàng, bao gồm cả các hoạt động kinh doanh đến các mục tiêu hướng tới của khách hàng. Và quan trọng hơn cả, những nhà quản lý kinh doanh, nhà quản lý công ty cần hiểu tường tận các khách hàng mong đợi gì trong mối quan hệ giữa họ với khách hàng. Các công ty luật đang phục vụ khách hàng là những công ty khác nhau trên thị trường, họ cần nhận thấy rằng thị trường đang thay đổi từng ngày, các hoạt động kinh doanh đang trở nên năng động và nhanh chóng hơn bao giờ hết. Việc có những quyết định nhanh chóng và hiệu quả để duy trì tính cạnh tranh là vô cùng cần thiết. Việc hiểu được những thách thức và rủi ro pháp lý mà khách hàng đang đối mặt là rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp, các khách hàng không đơn thuần nhờ đến các nhà tư vấn pháp lý chỉ để “đối phó” với những tình huống xấu, họ cần đến các công ty luật vì những lời khuyên và dịch vụ tư vấn nhằm họ giảm thiểu rủi ro cũng như những vấn đề pháp lý khác liên quan trước mỗi quyết định kinh doanh.

Trong bối cảnh nhiều công ty luật hiện nay vẫn thường xuyên mắc sai lầm khi không tìm hiểu kỹ về khách hàng trước khi tiến hành hoạt động tư vấn thì những nhà quản lý hoạt động tư vấn nào nhận thấy tầm quan trọng của sự hiểu biết về khách hàng và lợi thế cạnh tranh mà nó mang lại sẽ có thể giúp công ty của mình có những bước tiến dài trên thị trường.

Nhiều công ty luật rất muốn thiết lập mối quan hệ với khách hàng dựa trên cơ sở ổn định và dài hạn. Trong con mắt của các khách hàng, họ thực sự muốn mình là một đối tác pháp lý quan trọng và tin tưởng để sẵn sàng giao phó mọi công việc kinh doanh. Để có được điều đó, các công ty luật cần trở thành những người bạn thực sự của khách hàng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để khách hàng cảm thấy thoải mái nhất với dịch vụ pháp lý của mình. Các công ty luật cần cho phép các nhà quản lý của mình xây dựng mối quan hệ đối tác thực sự chứ không đơn giản là những giao dịch tư vấn kinh doanh thu lợi nhuận.

Ngoài việc hiểu khách hàng, nắm vững những kiến thức chuyên môn tư vấn trong các lĩnh vực mà khách hàng cần, các công ty luật cần cải thiện dịch vụ pháp lý của mình, ưu tiên đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, các hoạt động kinh doanh gặp rủi ro do không có lời tư vấn pháp lý hay tư vấn sai lầm, dịch vụ pháp lý cũng có thể thất bại nếu không có những quyết định đúng đắn hay quá tập trung vào chuyên môn mà quên đi công việc chăm sóc khách hàng.

Một cách tổng thế, các công ty luật uy tín cũng cần tự đánh giá và xem xét lại mình trong việc đang cung cấp dịch vụ pháp lý cho ai và như thế nào? Tính cạnh tranh trên thị trường pháp lý ngày nay yêu cầu các công ty thường xuyên đánh giá lại hoạt động kinh doanh để trả lời các câu hỏi như liệu đã thoả mãn các nhu cầu của khách hàng hay chưa? Liệu đã giúp khách hàng được những gì? Liệu dịch vụ của mình còn có điểm nào yếu kém khiến khách hàng chưa hài lòng?… Ngoài ra, những yếu tố như kinh doanh tại phân khúc thị trường nào cho phù hợp, các nhà quản lý thiết lập mối quan hệ với khách hàng như thế nào cũng rất quan trọng để duy trì sự ổn định của các hoạt động tư vấn pháp luật.

Những hoạt động kinh doanh chỉ thực sự thành công khi các công ty luôn kiên định và tập trung vào các chiến lược của mình. Các nhà quản lý tại các công ty luật cần nhận ra điều này và thấy rằng trong mọi giao dịch kinh doanh không phải lúc nào các khách hàng cũng dễ dàng thay đổi các công ty luật mà mình đã thuê.

Tôn trọng lợi ích của khách hàng là yếu tố quyết định

Ngày nay, rất nhiều khách hàng của các công ty luật đều đưa ra những mục tiêu ấn định hay bản báo cáo về triển vọng và nhiệm vụ. Việc này thường liên quan trực tiếp theo một cách nào đó đến giá trị của công ty, những quy định hướng dẫn hay nguyên tắc kinh doanh. Nói một cách ngắn gọn, những đánh giá này là hình ảnh thu nhỏ của công ty và các nhân viên của họ. Sẽ rất quan trọng cho các hoạt động kinh doanh khi nhìn vào các công ty khác, các đối tác kinh doanh để biểu hiện những đặc điểm tương tự.

Các công ty luật không phải là một ngoại lệ. Đối với các khách hàng, công ty luật cần nhìn vào giá trị thực sự mà họ muốn đạt được để đề ra các nguyên tắc làm việc cho riêng mình. Hoạt động tư vấn pháp lý thực chất là một dịch vụ chuyên nghiệp phục vụ khách hàng, do đó lợi ích của khách hàng và sự tôn trọng khách hàng cần được đặt lên hàng đầu. Bất kể thứ gì kém hơn, ít hơn đều không thể chấp nhận được.

Cuối cùng, muốn trở thành một công ty luật uy tín thì hãy trở thành đối tác lâu dài và đáng tin cậy

Khi mà ngày càng có nhiều công ty luật trên thị trường sẵn sàng hỗ trợ các khách hàng của bạn, việc thiết lập và duy trì một quan hệ đối tác lâu dài và tin tưởng giữa công ty luật với các khách hàng là rất cần thiết. Công ty luật uy tín phải hoạt động như thế nào để bất cứ khi nào cần là khách hàng sẽ nhờ ngay đến mình hay chí ít thì cũng xem xét có nên tiếp tục hợp tác nữa hay không.

Nhiều và nhiều hơn các khách hàng ngày nay đã đề ra các chiến lược kinh doanh thắt chặt chi tiêu và việc phải nhờ đến tư vấn từ bên ngoài. Việc tạo ra mối quan hệ đối tác chiến lược mặc dù hứa hẹn nhiều công việc pháp lý ổn định trong tương lai nhưng không đảm bảo rằng công việc sẽ suôn sẻ và sự uỷ thác sẽ vô hạn định.

Trong kinh doanh, các doanh nhân đương nhiên phải tính toán sao cho có lợi nhuận. Nhưng, khoản lợi nhuận ấy phải do bàn tay khéo léo và khối óc thông minh tạo ra. Đó là nghệ thuật kinh doanh chân chính. Những công ty luật thành công trong một thị trường đầy cạnh tranh như hiện nay là những công ty hiểu được nhu cầu, giá trị, hình ảnh và mục tiêu kinh doanh của khách hàng. Làm việc thêm giờ miễn phí không phải là cái gì đó bất thường đối với những công ty luật thành công bởi theo họ điều này đồng nghĩa với việc họ đang cùng với khách hàng chia sẻ khó khăn nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh đề ra. Qua đó, sẽ xây dựng một mối quan hệ hợp tác lâu dài và ổn định trong tương lai với khách hàng.

Các công ty luật cần hiểu rõ một chân lý rằng họ đang kinh doanh một dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng, khách hàng quyết định sự tồn tại của mình và mối quan hệ giữa mình với khách hàng là mối quan hệ cộng sinh, hai bên cũng có lợi. Thị trường tư vấn pháp luật giờ đây không khác các thị trường chung là bao, đều có những thách thức và mang tính cạnh tranh nhằm thu lợi nhuận cao nhất, hoạt động tư vấn pháp luật là một nghề giống như mọi nghề khác, cũng chịu sự chi phối của quy luật thị trường. Do đó, để trở thành công ty luật uy tín, các công ty luật cần tiếp thu và đề ra các nghệ thuật kinh doanh mới cho phù hợp./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Thỏa thuận bảo mật thông tin trong hợp đồng lao động

Thỏa thuận bảo mật thông tin trong hợp đồng lao động (Tiếng anh: Non Disclosure Agreement – Viết tắt: NDA) là một dạng thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ, trong đó NLĐ cam kết không tiết lộ các bí mật, thông tin kinh doanh của doanh nghiệp với bất kỳ ai nếu không được sự đồng ý của NSDLĐ. Thỏa thuận này là một trong những thỏa thuận đặc biệt giữa người sử dụng lao động và người lao động hiện nay – vấn đề được quan tâm khi tư vấn pháp luật lao động nói riêng và tư vấn luật nói chung.

Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012) quy định các bên ký kết hợp đồng lao động thỏa thuận một điều khoản giữ gìn bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh tại khoản 2 Điều 23 BLLĐ 2012: “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm”. Quy định này được xem như một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực pháp luật lao động, góp phần đưa pháp luật lao động của Việt Nam tiến gần với pháp luật lao động của các nước có nền pháp lý phát triển. Đây là điều khoản được xây dựng với mục đích ngăn ngừa, hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa người lao động (NLĐ) đã thôi không làm việc cho người sử dụng lao động (NSDLĐ), bảo vệ NSDLĐ và những lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, việc vận dụng quy định trên vào thực tiễn cũng còn không ít vướng mắc và còn nhiều cách hiểu khác nhau, do pháp luật không quy định thông tin bảo mật là gì dẫn đến tùy từng doanh nghiệp mà thông tin mật được quy định, định nghĩa khác nhau. NSDLĐ thường có xu hướng tối đa hóa những thông tin được xem là thông bảo mật và như một hệ quả tất yếu nghĩa vụ mà NLĐ sẽ phải thực hiện càng nhiều, ở một giới hạn nào có thể quyền của người lao động sẽ bị xâm phạm.

Thỏa thuận bảo mật thông tin trong hợp đồng lao động

Căn cứ Khoản 2 Điều 23 BLLĐ cho phép NSDLĐ và NLĐ được ký các thỏa thuận về bảo mật thông tin khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh và bí mật công nghệ của doanh nghiệp. Các nội dung cơ bản của thỏa thuận được thể hiện qua mặt hình thức và mặt nội dung.

Thứ nhất, về mặt hình thức, BLLĐ quy định hình thức của thỏa thuận bảo mật thông tin phải là văn bản tuy nhiên không quy định về thời điểm hai bên xác lập thỏa thuận bảo mật thông tin. Do đó, NLĐ và NSDLĐ có quyền lựa chọn các hình thức thỏa thuận sao cho phù hợp với tính chất của công việc, mức độ chi tiết của thỏa thuận nhưng chung quy lại thỏa thuận bảo mật thông tin có thể dưới hình thức là một điều khoản trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận về bảo mật thông tin riêng biệt như:

Một, ghi nhận tại hợp đồng lao động hoặc các phụ lục hợp đồng lao động. Trong trường hợp này các bên thỏa thuận về bảo mật thông tin ngay từ khi bắt đầu quan hệ lao động hoặc trong quá trình làm việc các bên phát sinh nhu cầu cần thỏa thuận về bảo mật thông tin thì lúc này thỏa thuận của các bên được ghi nhận trong phụ lục của hợp đồng.

Hai, thiết lập một thỏa thuận hoặc cam kết độc lập.

Ba, Thỏa thuận bảo mật thông tin chỉ được lập khi có sự tồn tại của quan hệ lao động tức sẽ không bao giờ được lập trước khi ký kết hợp đồng lao động hoặc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Thứ hai, về mặt nội dung: Thỏa thuận này đặc biệt ở việc khi hợp đồng chấm dứt thì thông thường tất cả nghĩa vụ của người lao động dường như cũng chấm dứt nhưng người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động cũng là lúc phải thực hiện những nghĩa vụ đã thỏa thuận với người sử dụng lao động về bảo mật thông tin. Nội dung của thỏa thuận về bảo mật thông tin thường quy định những nội dung:

Một là, phạm vi công việc được bản thỏa thuận điều chỉnh. Cụ thể phạm vi thông tin bảo mật hoặc liệt kê những loại cơ bản đồng thời xây dựng tiêu chí để xác định các thông tin cần bảo mật.

Hai là, thời gian, không gian cam kết nhằm để đánh giá từng trường hợp cụ thể để xác định thời gian, không gian tuân thủ phù hợp. Việc đánh giá thực hiện dựa trên cân bằng lợi ích của hai bên, đủ khả năng bảo vệ các thông tin, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo quyền của NLĐ.

Ba là, cam kết và trách nhiệm bồi thường của NLĐ để cân nhắc đến nguyên tắc bồi thường giá trị tương xứng với thiệt hại, song song đó xây dựng phương thức phòng ngừa và xử lý đối với bên thứ ba khi cam kết bị vi phạm.

Bốn là, nghĩa vụ đối ứng của doanh nghiệp nhằm cân nhắc đến lợi ích của NLĐ khi ký kết, thực hiện thỏa thuận hạn bảo mật thông tin. NLĐ được nhận những lợi ích tương xứng với cam kết của họ là cơ sở tăng cường sự tuân thủ thỏa thuận.

Hiện nay, trong khi chờ đợi hướng dẫn chi tiết thực hiện quy định về cam kết bảo mật nêu trên của các cơ quan có thẩm quyền, NSDLĐ cần xây dựng điều khoản cam kết bảo mật một cách chi tiết và đầy đủ thông tin, những quy định riêng biệt. Chẳng hạn như quy định cụ thể về các loại thông tin như thế nào thì cần được bảo mật, bảo mật trong thời gian bao lâu, các hành vi như thế nào sẽ vi phạm thỏa thuận này cùng những chế tài phù hợp cho từng hành vi cụ thể khi người lao động vi phạm để có thể thực thi trên thực tế. Bên cạnh đó, NSDLĐ cần lưu ý một thỏa thuận bảo mật thông tin đạt chuẩn cần phải ràng buộc các bên với những điều khoản vô cùng chi tiết và khoa học. Cụ thể như: định nghĩa thông tin mật, phương thức lưu giữ thông tin, phạm vi sử dụng thông tin, thời hạn bảo mật, quyền và nghĩa vụ chi tiết của các bên, chế tài đủ tính răn đe mà vẫn đảm bảo đúng pháp luật về Sở hữu trí tuệ….

Với lợi thế đội ngũ nhân sự kỹ năng thành thạo, kinh nghiệm quốc tế và thông hiểu địa phương. Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt là người dẫn đường hàng đầu trong việc định hướng cho khách hàng trong hệ thống pháp lý tại Việt Nam. Không chỉ cung cấp cho quý khách hàng những giải pháp tư vấn ban đầu mà Giải Pháp Việt sẽ luôn đồng hành cùng Quý khách hàng trong suốt quá trình hoạt động.

Tin chắc rằng khách hàng được hưởng nhiều lợi ích từ nguồn kiến thức sâu rộng mà đội ngũ luật sư cao cấp của chúng tôi tập trung vào. Tuỳ vào tình huống cụ thể mà chúng tôi sẽ đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn cao nhất cho khách hàng. Quý khách hàng chưa rõ, cần hỗ trợ vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt để được tư vấn, hỗ trợ.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chuyện cũ nhưng không cũ

Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm, trước nay có những vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm kéo dài đến hàng năm trời nhưng không xử lý hình sự được người vi phạm. Cuối cùng cơ quan chức năng phải xử phạt hành chính. Ví dụ như có vụ phát hiện hơn 20 tấn thịt vi phạm nhưng chỉ xử phạt mấy trăm triệu. Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm thống kê số vụ việc vi phạm có thể chuyển qua để xử lý hình sự rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính vì thế mức răn đe đối với các đối tượng khác cũng chưa đủ mạnh. Hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm của đa số người dân hiện nay, đặc biệt trong dịp Tết nguyên đán cận kề. Cho đến hiện nay, các vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được các cơ quan chức năng vào cuộc mạnh mẽ và xử lý nghiêm.

Luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm (Ảnh minh họa)

Liên quan đến vấn đề này, luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm nêu rõ: vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đã được quy định tại điều 317 Bộ luật hình sự và Luật an toàn thực phẩm. Thông thường, nếu hành vi vi phạm chưa đủ cấu thành tội phạm tại điều 317 thì sẽ phải xử lý theo Luật an toàn thực phẩm và Nghị định hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính.

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã đặt ra các chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm chặt chẽ và khả thi hơn. Điều 317 về tội “Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm” quy định: Người nào thực hiện một trong các hành vi như sử dụng chất cấm trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm có sử dụng chất cấm; hoặc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật bị cấm, nằm ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối tạo ra dư lượng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm; hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội danh này là 20 năm tù). Như vậy, mọi tổ chức, cá nhân chỉ cần có hành vi sản xuất, buôn bán thực phẩm thối, tẩm hóa chất độc hại như quy định nêu trên sẽ bị xử lý hình sự, mà không cần có hậu quả xảy ra như chết người hay gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Điều này sẽ giúp cơ quan chức năng có biện pháp mạnh tay hơn trong việc xử lý hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, có hại cho người tiêu dùng trong thời gian tới. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

Vậy trước thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định xử lý như trên có răn đe, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm?

Muốn áp dụng pháp luật để xử lý loại tội phạm này không dễ. Ngay cả xử phạt hành chính mà lập biên bản xử lý không đúng cũng bị kiện ngay. Bộ luật hình sự có nêu rõ điều kiện vi phạm nhưng thực tế khi chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra thì hầu hết đều bị kết luận chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không chứng minh được thiệt hại của nạn nhân. 

Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm đã và luôn là điều chúng ta quan ngại, khi về số lượng và mức độ các vụ việc càng ngày càng đáng báo động. Theo quan điểm của luật sư tư vấn, việc xử lý hình sự đúng người đúng tội những cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ có tính răn đe tốt hơn. Những vi phạm về an toàn thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tính mạng người dân. Chưa kể những chất độc hại tích tụ sẽ di hại về sau mà không ai định lượng được. Trong khi, từ trước tới nay đa số các vụ việc chỉ mới dừng lại ở mức xử phạt hành chính. Để hạn chế các hành vi an toàn thực phẩm cần nhiều yếu tố tác động, và việc quy định xử lý hình sự do đó có thể coi là một trong những yếu tố thúc đẩy.

Bên cạnh đó, trách nhiệm doanh nghiệp, nhà sản xuất, người kinh doanh khi đưa sản phẩm, hàng hóa ra thị trường cần phải thực hiện gì?

Điều đầu tiên, các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm cần nâng cao tính tự chủ, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến như GMP, VietGap, HACCP, ISO… nhằm tạo nguồn cung bảo đảm an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, các sản phẩm an toàn phải được kiểm soát tốt từ sản xuất đến lưu thông, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, không tồn dư hóa chất cấm sử dụng, hóa chất ngoài danh mục được phép sử dụng. Trong trường hợp, nếu xảy ra vấn đề doanh nghiệp cần có trách nhiệm cung cấp thông tin, cung cấp bằng chứng giao dịch, bảo vệ thông tin, trách nhiệm bên thứ ba, bồi thường thiệt hại, giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng.

Những yếu tố trên góp phần tạo tạo uy tín cho người tiêu dùng là điều cần thiết, song hành cùng với việc tìm kiếm lợi nhuận kinh doanh. Sự uy tín không chỉ đến từ chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm mà còn những biện pháp góp phần ngăn chặn hành vi vi phạm an toàn thực phẩm. Bởi hiện nay, đa số các sản phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm đến từ các sản phẩm nhập lậu, làm giả, nhái từ các thương hiệu sản phẩm uy tín. Do đó, chúng tôi cho rằng việc hỗ trợ người tiêu dùng nhận diện thương hiệu chính thức cũng là điều các doanh nghiệp, nhà sản xuất đáng lưu tâm.

Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm, trong thời điểm cận tết như thế, người tiêu dùng khi mua hàng hóa – sản phẩm cần phải lưu ý những điều gì?

Tình trạng thực phẩm thiếu an toàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ được bày bán tràn lan trên thị trường thời điểm cận Tết khiến cho người dân không khỏi hoang mang. Bên cạnh đó, Chúng ta nhận thấy rằng giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất vào mỗi dịp mua sắm Tết vì hai lý do cơ bản là các sản phẩm đều tăng giá và nhu cầu mua sắm tăng cao, nên việc tiết kiệm chi phí là điều cần thiết. Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng không nên chủ quan và bỏ qua tiêu chí về chất lượng sản phẩm, đặc biệt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số lưu ý cho chúng ta trong dịp mua sắm thời điểm cận Tết như sau:

Thứ nhất là thận trọng khi kiểm tra xuất xứ sản phẩm: Có rất nhiều mặt hàng kém chất lượng vào dịp Tết, vì vậy cần nên xem xét kĩ nhãn mác, bao bì trước khi mua. Tốt nhất nên mua ở những cửa hàng có uy tín, siêu thị hoặc những đại lý chính hãng để tránh được tình trạng mua phải hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Thứ hai, luôn cẩn thận kiểm tra hạn sử dụng của từng sản phẩm.

Thứ ba, khi phát hiện ra các hành vi an toàn thực phẩm cần báo cho cơ quan chức năng để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, tránh để việc hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng, mất an toàn thực phẩm trôi nổi trên thị trường./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Ký sự quê hương: Vũng Chùa – Đảo Yến và tầm nhìn văn hóa khi chọn nơi an nghỉ của Đại tướng

Trong chuyến công tác tại Hà Tĩnh vào cuối năm 2019, luật sư  tư vấn doanh nghiệp uy tín công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã có chuyến viếng thăm nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với rất nhiều cảm xúc xúc động và trân trọng. Chúng tôi nhận thấy, ngoài lý do về phong thủy, tâm linh, người kiến tạo nên lịch sử của dân tộc, vị tướng lẫy lừng của thế giới – Đại tướng Võ Nguyên Giáp – đã quyết định chọn vùng đất Vũng Chùa – Đảo Yến để “yên giấc ngàn thu”, hẳn sẽ còn có cả nguyên nhân chiến lược về: Quốc phòng, kinh tế, chính trị và văn hóa.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp uy tín tại Đảo Yến
Luật sư tư vấn doanh nghiệp uy tín viếng thăm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Vũng Chùa – Đảo Yến nằm trong Khu Công nghiệp Cảng biển Hòn La, dưới chân Đèo Ngang. Hòn La đang là cảng biển sâu, vốn được xem lý tưởng vào loại bậc nhất nước ta. Là tiềm năng kinh tế biển nhưng vì nhiều lý do, nơi đây vẫn chưa được đầu tư, phát triển xứng tầm.Việc Đại tướng chọn “viên ngọc” thô này làm nơi an nghỉ, sẽ góp phần nào giúp địa phương kêu gọi đầu tư, cùng với Khu Kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế toàn khu Bắc Miền Trung vốn đang còn đói nghèo.
Cái tên Vũng Chùa – Đảo Yến đã có từ lâu. Nơi đây có một cái hang rất to, chim yến sinh sống trong đó rất nhiều nhiều. Đằng sau Vũng Chùa là núi. Phóng tầm mắt ra biển, Đảo Yến như một bức bình phong giữa biển. Người dân nơi đây thường hay ra đây, nhìn về đó chỉ thấy một đường cung giao giữa trời và đất, bao la nghìn trùng. Biển ở đây, vừa có độ sâu lý tưởng vừa có dải cát trải dài, nước sạch, trong xanh.
Như đã biết, quê hương Lệ Thủy của Tướng Giáp – nơi có con sông Kiến Giang hiền hòa chảy qua – là một địa danh nằm cuối đất Quảng Bình từ Bắc vào Nam. Nên không phải ngẫu nhiên mà Người chọn Vũng Chùa – Đảo Yến, một điểm đầu cực bắc của tỉnh Quảng Bình để “nghỉ ngơi”. Từ nay, người từ phía Bắc muốn vào thăm cụ thì sau khi qua Đèo Ngang rẽ vào phần mộ dâng hương, cũng sẽ đi tiếp đến tận phía Nam tỉnh Quảng Bình để tham qua Khu di tích nhà ở xưa của Đại tướng.

Và ngược lại, người từ phía Nam khi ghé ra thăm Khu nhà lưu niệm ở Lệ Thủy, cũng sẽ đi tiếp đến điểm đầu của Quảng Bình để thắp nén nhang lên mộ phần của Người. Với lộ trình như vậy, đất và người Quảng Bình sẽ nhộn nhịp hơn. Nó phần nào thúc đẩy rất lớn việc phát triển các dịch vụ du lịch trên quê nhà – nơi vốn phải trải qua nhiều thiên tai tàn khốc và mưa đạn của quân thủ. Có biển Nhật Lệ, Có Phong Nha – Kẻ Bàng, Sơn Đòong, từ nay, mảnh đất nghèo này sẽ hội tụ đủ các yếu tố để phát triển du lịch.

Tọa lạc trên đỉnh núi Rồng (hay còn gọi là Thọ Sơn), Người như ngọn hải đăng tinh thần luôn sáng ngời để dẫn đường, nhắc nhở con cháu muôn đời sau phải có trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp uy tín

Bãi biển Vũng Chùa – Đảo Yến, dân địa phương vẫn gọi là Bãi Rõ dài hơn 1km. Khung cảnh nơi đây tuyệt đẹp với bờ cát trắng mịn màng, quanh năm không có gió to và sóng lớn. Những con sóng, những luồng gió mát từ biển xanh ấy, từ đây sẽ vỗ về giấc ngủ ngàn thu cho Người – Vị tướng tài hoa, niềm tự hào của cả dân tộc Việt.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt./.

 

Những yếu tố giúp bạn trở thành luật sư giỏi

Hiện nay, việc cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm phạm thuê Luật sư để bảo vệ không còn là một chuyện xa lạ với xã hội nữa. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng trong tiến trình xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Để trở thành một luật sư giỏi, ngoài những kiến thức pháp lý (luật nội dung- luật hình thức), người Luật sư còn cần phải có những kỹ năng nghề nghiệp vững chắc.

Thứ nhất, đạo đức nghề nghiệp: Là một luật sư nói riêng và người làm trong lĩnh vực pháp luật nói chung thì nhất thiết bạn phải có đạo đức – chính trị tốt, luôn trung thành với sự thật. Người ta vẫn ví những người làm trong lĩnh vực tư pháp là những người có thể đổi trắng thay đen, biến một người có tội nặng thành tội nhẹ, tội nhẹ thành vô tội và ngược lại. Cũng có câu ví luật sư như những con rắn có cái lưỡi không xương uốnéo sẵn sàng dối trá. Câu nói này xuất phát từ hiện tượng có không ít người đã vì lợi ích cá nhân mà dám bóp méo sự thật. Những người như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị pháp luật trừng trị. Nghề nào cũng cần phải có đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên nghề luật là nghề cần thiết hơn cả. Sự trung thực với sự thật, trung thành với luật pháp của những người luật sư sẽ góp phần làm cho xã hội trong sạch hơn.

Thứ hai, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, giải quyết vấn đề: Người ta vẫn thường hay gọi luật sư là các “thầy cãi” cũng bởi nghề luật là nghề nói, nghề cãi. Vì vậy kỹ năng giao tiếp cũng như kỹ năng thuyết phục, diễn giải vấn đề một cách khúc chiết luôn là những kỹ năng quan trọng nhất. Hãy thử tưởng tượng xem, trong một phiên tòa mà vị luật sư cứ nói ấp a ấp úng, diễn đạt lủng củng, không rành mạch… thì liệu thân chủ của anh ta có bao nhiêu phần trăm thắng cuộc? Để có được những kỹ năng này và phấn đấu trở thành một luật sư giỏi, bạn cần phải chịu khó rèn luyện ngay từ bây giờ. Hãy tập nói một mình trước gương hay cùng một vài người bạn tập hợp lại để tranh luận về một vấn đề cùng quan tâm. Bạn cũng có thể tham gia các khóa học về kỹ năng giao tiếp, thuyết trình. Một điều nữa là trước khi diễn thuyết, bạn nên tìm hiểu thật kỹ vấn đề mình sẽ nói, lên dàn bài cho nội dung mình sẽ nói…

Những yếu tố để trở thành Luật sư giỏi

Thứ ba, tư duy phân tích, tổng hợp, phán đoán, và tư duy logic: Nếu muốn trở thành một luật sư giỏi, bạn cần phải phân tích được các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó xâu chuỗi tất cả những hành vi này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, đâu là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được. Sự hiểu biết về tâm lý con người nói chung và tâm lý tội phạm nói riêng cũng sẽ giúp cho những luật sư dễ dàng tìm ra nguyên nhân của những hành vi phạm tội.

Cuối cùng đó chính là ngoại ngữ: Bên cạnh những điều kiện, kỹ năng trên, bạn cũng cần phải có trình độ ngoại ngữ tốt để có thể làm việc tốt trong thời đại hội nhập ngày nay. Là một luật sư giỏi, bạn hoàn toàn có thể tham gia vào các vụ kiện tụng mang tính chất quốc tế hay các vụ kiện tụng có sự tham gia của người nước ngoài ở Việt Nam. Những vụ như vậy sẽ đem lại cho bạn rất nhiều kinh nghiệm cũng như một khoản thù lao không nhỏ đó. Đừng để rào cản ngôn ngữ mà hạn chế khả năng, cơ hội của mình.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt./.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Ở những bài viết trước, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chia sẻ các hình thức đấu thầu. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác và khách hàng phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013.

Theo Luật đấu thầu 2013, từ Điều 28 đến Điều 31 thì có 4 phương thức đấu thầu:

– Đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Xuất phát từ quy mô, tính chất phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của các gói thầu sử dụng vốn nhà nước mà Luật đấu thầu đã quy định cụ thể 4 phương thức đấu thầu khác nhau. Mục đích chính là để đáp ứng tốt nhất khả năng thực hiện và bảo đảm chất lượng của gói thầu. Đồng nghĩa, các gói thầu có sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ về phương thức đấu thầu theo Luật đấu thầu.

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán ) trong cùng một túi hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần (mở cùng lúc cả đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ).

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật theo yêu cầu sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất tài chính để đánh giá. Nếu nhà thầu nào đạt cả hai yêu cầu về kỹ thuật và tài chính thì sẽ trở thành người trúng thầu. Tuy nhiên, đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn nhà nước nhỏ, đơn giản và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28, 29 Luật đấu thầu 2013.

Các phương thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu từ Điều 28 đến Điều 31 được quy định khắt khe theo độ phức tạp và quy mô sử dụng vốn của dự án. Nếu như phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với các dự án đơn giản, quy mô vốn nhỏ thì phương thức đấu thầu hai giai đoạn lại được áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn lớn và có tính phức tạp cao hơn. Phương thức này chỉ được quy định trong Luật đấu thầu bởi lẽ các phương thức đấu thầu được quy định đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, mang tính chất công thì việc bảo đảm tiến độ công trình, chất lượng của dự án là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của cả một đất nước. Vì vậy cần phải có một phương thức đấu thầu chặt chẽ để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, với giá cả hợp lý nhất. 

Theo quy định tại Điều 30 Luật đấu thầu thì phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Xuất phát từ thực tế có rất nhiều nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của gói thầu nhưng do giá dự thầu thấp nên đã trúng thầu. Đến khi thực hiện dự án thì không bảo đảm về mặt chất lượng cũng như tiến độ thi công của gói thầu.

Bài học thực tế từ các nhà thầu Trung Quốc thời gian qua là một ví dụ điển hình. Bằng “chiêu trò” đưa ra giá thấp nhất để được trúng thầu nhưng khi trúng thầu thì họ lại chây lì, không chịu thực hiện dự án với lý do giá thấp, không đủ để thực hiện, buộc bên mời thầu (bên mua) phải tăng giá gói thầu lên thì mới chịu thực hiện. Kết quả giá của gói thầu đã bị đẩy lên cao gấp nhiều so với thực tế. Chính vì vậy, quy định này một phần loại trừ những nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trước khi xem xét tới giá của gói thầu. Bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện các công trình sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Như vậy, đối với các dự án đòi hỏi công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù thì sẽ áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ. Trong phương thức đấu thầu này thì các yêu cầu về kỹ thuật là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc trúng thầu của các bên dự thầu bởi cái bên mời thầu quan tâm nhất chính là kỹ thuật công nghệ chứ không phải giá của gói thầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ có một hoặc một số nhà thầu mới đủ điều kiện thực hiện được gói thầu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như vậy thì rất dễ dẫn đến nhà thầu đòi giá gói thầu cao hơn nhiều lần so với giá thực tế. Đây cũng chính là hạn chế của phương thức đấu thầu này bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại. 

Trong suốt quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi đã học hỏi và trau dồi được những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và hiểu rõ hơn về phương thức đấu thầu. Hy vọng những chia sẻ của luật sư tư vấn sẽ mang đến thông tin hữu ích cho quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013