Pate Minh Chay chứa độc tố – Xử lý vi phạm như thế nào?

Hiện nay tình trạng ngộ độc thực phẩm diễn ra phổ biến khiến người tiêu dùng vô cùng hoang mang, lo lắng về an toàn vệ sinh thực thẩm và nó trở thành mối nguy hại lớn đối với sức khỏe của cộng đồng. Vụ việc ngộ độc liên quan đến sản phẩm của cơ sở Pate Minh Chay khiến nhiều người lo lắng và đặt câu hỏi rằng ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho các nạn nhân trong trường hợp này.

Pate Minh Chay chứa độc tố – Xử lý vi phạm như thế nào? (Ảnh: Nguồn Internet)

Dưới góc độ pháp lý, Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì người tiêu dùng có quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

Đồng thời, theo quy định tại Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Tổ chức, cá nhân cung cấp thực phẩm mà gây ngộ độc phải chịu toàn bộ chi phí điều trị cho người bị ngộ độc và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự theo quy định tại khoản 5 Điều 53 Luật an toàn thực phẩm.

Trong đó, các chi phí bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; Bồi thường tổn thất tinh thần,… theo quy định tại Điều 590 BLDS.

Bên cạnh việc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho khách hàng, các cá nhân, tổ chức cung cấp thực phẩm dẫn tới tình trạng ngộ độc cho khách hàng còn phải chịu các chế tài xử phạt từ các cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ vào tính chất, mức độ gây thiệt hại của hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi thì các tổ chức, cá nhân này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính về an toàn thực phẩm hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định Bộ luật hình sự năm 2015.

Cụ thể, phạt tiền từ 80 – 100 triệu đồng đối với hành vi nhập khẩu, sản xuất, chế biến, cung cấp, bán thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 8 Điều 22 Nghị định 115/2018/NĐ-CP đối với hành vi quy định khác về bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, cung cấp thực phẩm.

Ngoài ra buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như Buộc thu hồi và tiêu hủy  thực phẩm không đảm bảo; Buộc chịu mọi chi phí cho việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm theo quy định tại khoản 11 Điều luật này.

Trong trường hợp cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 – đến dưới 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng….; Cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng… thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 Bộ luật hình sự. Tùy từng tính chất mức độ có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng, phạt tủ từ 1 năm đến cao nhất là 20 năm tù.

Bên cạnh đó, trách nhiệm doanh nghiệp, nhà sản xuất, người kinh doanh khi đưa sản phẩm, hàng hóa ra thị trường cần phải thực hiện gì?

Điều đầu tiên, các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm cần nâng cao tính tự chủ, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến như GMP, VietGap, HACCP, ISO… nhằm tạo nguồn cung bảo đảm an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, các sản phẩm an toàn phải được kiểm soát tốt từ sản xuất đến lưu thông, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, không tồn dư hóa chất cấm sử dụng, hóa chất ngoài danh mục được phép sử dụng. Trong trường hợp, nếu xảy ra vấn đề doanh nghiệp cần có trách nhiệm cung cấp thông tin, cung cấp bằng chứng giao dịch, bảo vệ thông tin, trách nhiệm bên thứ ba, bồi thường thiệt hại, giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng.

Người tiêu dùng cũng không nên chủ quan và bỏ qua tiêu chí về chất lượng sản phẩm, đặc biệt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số lưu ý cho chúng ta trong dịp mua sắm:

Thứ nhất là thận trọng khi kiểm tra xuất xứ sản phẩm: Có rất nhiều mặt hàng kém chất lượng, vì vậy cần nên xem xét kĩ nhãn mác, bao bì trước khi mua. Tốt nhất nên mua ở những cửa hàng có uy tín, siêu thị hoặc những đại lý chính hãng để tránh được tình trạng mua phải hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Thứ hai, luôn cẩn thận kiểm tra hạn sử dụng của từng sản phẩm.

Thứ ba, khi phát hiện ra các hành vi an toàn thực phẩm cần báo cho cơ quan chức năng để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, tránh để việc hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng, mất an toàn thực phẩm trôi nổi trên thị trường./.

Với người tiêu dùng đã sử dụng sản phẩm, nếu có dấu hiệu bất thường về sức khỏe như trên cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được kiểm tra và theo dõi kịp thời.

Theo công ty Luật Giải Pháp Việt

Lãi suất ngân hàng trong bối cảnh dịch Covid-19 – Đâu là giải pháp cho các doanh nghiệp?

(Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp) Trước tình hình dịch Covid – 19 vẫn đang diễn ra vô cùng phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, doanh thu giảm sút trầm trọng. Ngày 04/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 11/CT-TTg về nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid – 19. Cụ thể, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như: cơ cấu lại thời gian trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí,… đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Ngày 13/3/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 01/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng, doanh nghiệp trong mùa dịch. Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn doanh nghiệp Giải Pháp Việt chia sẻ kinh nghiệm về thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp - Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Doanh nghiệp được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là số dư nợ gốc và/hoặc lãi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Khoản 1, Điều 4 Thông tư 01/TT-NHNN

– Phát sinh từ hoạt động cho vay, cho thuê tài chính; Phát sinh nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid – 19; Doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19.

Theo đó, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, số dư nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký;

Thứ hai, số dư nợ đã quá hạn (trừ trường hợp quy định tại điểm thứ nhất) trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 01 thì ngân hàng quyết định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp và đánh giá của ngân hàng về khả năng trả nợ đầy đủ gốc và/hoặc lãi của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, phù hợp với mức độ ảnh hưởng của dịch Covid – 19, làm cơ sở để xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trình tự, thủ tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ do ngân hàng quy định tại quy định nội bộ nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu theo Thông tư 01.

Doanh nghiệp được miễn, giảm lãi, phí

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid -19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid – 19.

Doanh nghiệp được giữ nguyên nhóm nợ

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được giữ nguyên nhóm nợ đã phân loại theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm gần nhất trước ngày 23/01/2020 đối với số dư nợ sau đây:

– Số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ

– Số dư nợ được miễn, giảm lãi

– Số dư nợ quy định tại 2 điểm bên trên bao gồm cả phần dư nợ đã cơ cấu lại thời hạn nợ, miễn, giảm lãi và điều chỉnh nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày 29/3/2020

Như vậy, nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay, cho thuê tài chính đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19 thì doanh nghiệp có thể gửi công văn đề nghị ngân hàng xem xét hỗ trợ. Tùy theo quy định nội bộ của từng ngân hàng mà sẽ có hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chuẩn bị các hồ sơ cần thiết như giấy đề nghị miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, báo cáo tài chính 6 tháng gần nhất, thuế giá trị gia tăng năm trước liền kề… để chứng minh được doanh thu của mình bị giảm sút và bị thiệt hại do dịch Covid – 19. Ngân hàng sẽ dựa trên hồ sơ doanh nghiệp cung cấp để có cơ sở thẩm định, xác định thời hạn trả nợ mới của doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tiến hành giảm lãi suất khoản vay.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 2)

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã phân tích về một số bất cập ngoại trừ trong điều kiện đối với đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những ngoại trừ về điều kiện của đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Khoản 3, Điều 18, Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014).

Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định các đối tượng bị cấm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (PVG) trong doanh nghiệp. Điều khoản này không trực tiếp nói đến việc cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng về bản chất một khi các đối tượng bị cấm góp vốn thì họ cũng sẽ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp và cấm góp thêm vốn điều lệ (VĐL) của doanh nghiệp đã được thành lập (Khoản 13 Điều 4 LDN 2014). Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm, trong đó, nhóm đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 được dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Như vậy, muốn biết rõ đối tượng nào bị cấm góp vốn theo điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 thì phải xem quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, cụ thể là khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng 2018: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ, chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước”. Điều khoản này quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm:

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Nhóm đầu tiên là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước. Lý do bởi vì họ đều là cán bộ, công chức nhà nước nên đối tượng này còn chịu sự điều chỉnh của khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Do đó, nhóm này không chỉ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà còn bị cấm góp vốn thành lập những doanh nghiệp khác. Nhưng nếu góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập thì nhóm này chỉ bị cấm đối với những doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà thôi.

Nhóm đối tượng thứ hai là vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước bị cấm kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước. Theo khoản 16 Điều 4 LDN 2014, kinh doanh được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”, theo đó nội hàm của “kinh doanh” sẽ bao gồm công đoạn “đầu tư”; mà công đoạn “đầu tư” lại bao gồm hoạt động “góp vốn” vì khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa về “đầu tư” như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Như vậy, “kinh doanh” mà khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đề cập cũng sẽ bao gồm cả hoạt động góp vốn. Hay nói cách khác vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu bị cấm kinh doanh thì cũng sẽ bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, bao gồm cả cấm góp vốn thành lập và cấm góp thêm VDL vào những doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, không giống như người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước được quy định minh thị tại điểm b khoản 2 Điều 18 LDN 2014 – quy định về các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp; nhóm đối tượng vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước tuy cũng bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp, nhưng lại không thấy nhắc đến tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Rõ ràng thiếu sót như thế sẽ tạo cách hiểu không thống nhất trong LDN 2014. Do đó, thiết nghĩ LDN 2014 cần bổ sung nhóm đối tượng này vào đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

 

Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật?

Những ngày vừa qua, thông tin một nhóm gồm phụ huynh có con đang học tại Trường Dân lập quốc tế Việt Úc bỗng dưng nhận được văn bản thông báo trường không tiếp nhận con mình trong năm học 2020 – 2021 đã gây ra nhiều ý kiến tranh cãi. Nguyên nhân điều này bắt nguồn từ việc nhà trường và một số phụ huynh không đạt được sự đồng thuận trong vấn đề học phí của học kỳ bị ảnh hưởng do dịch Covid-19. Quyết định này đã dấy lên làn sóng phẫn nộ của nhiều phụ huynh có con theo học tại trường này do lo ngại ảnh hưởng tới việc học cũng như tâm lý của các em. Trả lời phỏng vấn cho chương trình Chuyện nóng 24h trên SCTV4, Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã có những chia sẻ về quan điểm cá nhân. (Luật sư tư vấn)

Luật sư tư vấn – Trường Việt Úc (VAS) từ chối nhận học sinh vì bất đồng với phụ huynh – Có trái Luật? Nguồn hình ảnh: PV Mạnh Tùng (Vnexpress.net)

 

PV:  Thưa Luật sư, xin Luật sư cho biết, đối với vấn đề này hành xử của nhà trường đã đúng luật chưa? Vì sao?

Luật sư: Mâu thuẫn học phí giữa phụ huynh và nhà trường là mối quan hệ dân sự, việc ngưng tiếp nhận học sinh là một dạng đơn phương chấm dứt hợp đồng. Theo khoản 5 điều 402 Bộ Luật Dân sự 2015 đây là hợp đồng liên quan đến lợi ích của người thứ ba (tức là học sinh) nên nhà trường và phụ huynh phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền và lợi ích cho học sinh. 

Việc không tìm được tiếng nói chung giữa phụ huynh và nhà trường có nhiều cách để xử lý hơn là việc nhà trường ra thông báo ngưng tiếp nhận học sinh. Tôi cho rằng hành động này không tuân thủ các quy định của Luật giáo dục và Luật Bảo vệ trẻ em về các quyền được tôn trọng, quyền học tập của công dân, quyền bình đẳng về cơ hội giáo dục.

PV:  Ngoài góc độ thương mại, trường Việt Úc có phải tuân thủ Luật giáo dục hay không? Việc từ chối tiếp nhận học sinh đang theo học dù học sinh không vi phạm quy định trường có phải là hành vi phản giáo dục?

Luật sư: Việc đưa ra các quyết định của trường không chỉ thực hiện các quy định của doanh nghiệp mà còn cần phải tuân thủ theo quy định Luật Giáo dục, các Nghị định, Thông tư chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục. Tôi cho rằng hành động này đã không nghĩ đến quyền và lợi ích của các em học sinh, làm tổn thương sâu sắc đến tâm lý của học sinh.

PV: Theo Luật sư, trong trường hợp này cả phụ huynh và phía nhà trường cần làm gì để bảo vệ quyền lợi cho học sinh?

Luật sư: Trong trường hợp này, theo tôi việc đề nghị bên thứ 3 là Tòa án có thẩm quyền giải quyết là hướng mà cả hai bên nên hướng đến. Tuy nhiên, trong thời gian giải quyết tranh chấp và chưa có quyết định của Tòa án thì 2 bên nên tôn trọng và tuân thủ các thỏa thuận đã được ký kết trước đó. Vì mục đích cuối cùng chính là tìm được tiếng nói chung để thống nhất phương án giải quyết tốt nhất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho các em học sinh./.

Theo Luật sư tư vấn – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, về đối tượng được quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014), tuy nhiên Luật này cũng có quy định theo nguyên tắc loại trừ. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 LDN 2014.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, trong số các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp được liệt kê tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014, vẫn có ý kiến trái chiều xoay quanh đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý kiến này cho rằng, việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, bởi lẽ theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013: ”Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không hẳn sẽ bị tòa án tuyên có tội; đồng thời theo nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật hình sự thì trong giai đoạn truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này vẫn được xem là người vô tội. Vì là người vô tội nên họ cần có các quyền cơ bản như những công dân bình thường khác, bao gồm cả quyền tự do kinh doanh và quyền thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc LDN 2014 cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là chưa hợp lý và thậm chí còn mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013. Thiết nghĩ, cũng giống như quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN 2005, LDN 2014 nên đưa người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi quy định cấm thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp, họ bị tòa án tuyên bố có tội và buộc phải thi hành hình phạt tù thì họ có thể lựa chọn thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp bằng cách chuyển nhượng, tặng, cho phần vốn góp (PVG)/ cổ phần cho người khác có đủ điều kiện theo luật định; nếu không tiến hành thayd đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào khoản 20 Điều 1 Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 về “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 14//2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp để thu hồi Giấy CNĐKDN đối với trường hợp trên.  

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 cũng đề cập đến một loại giấy tờ mà LDN 2005 trước kia không yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp, đó là Phiếu lý lịch tư pháp. Theo quy định, khi có yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh (cơ quan ĐKKD), người thành lập doanh nghiệp phải nộp thêm phiếu lý lịch tư pháp kèm với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có văn bản nào của cơ quan lập pháp lý giải vì sao lại yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp và trong những trường hợp cụ thể nào cơ quan ĐKKD được quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp loại giấy tờ này. Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp, chúng tôi thiết nghĩ việc LDN 2014 quy định thêm về phiếu lý lịch tư pháp là nhằm mục đích hỗ trợ cơ quan ĐKKD trong việc xác định người thành lập doanh nghiệp có rơi vào các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 hay không. Tuy nhiên, nếu xem xét định nghĩa về phiếu lý lịch tư pháp quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì “Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhận chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản”. Như vậy, phiếu lý lịch tư pháp chỉ giúp loại trừ được đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp trong trường hợp trước đó doanh nghiệp của người này bị tuyên bố phá sản theo quyết định của tòa án mà thôi; ngoài ra, các trường hợp còn lại quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN2014 thì không thể dựa vào phiếu lý lịch tư pháp để xác định được. Quan trọng hơn cả, việc LDN 2014 quy định một cách chung chung, không nêu rõ trường hợp cụ thể nào người thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu này bị áp dụng một cách tùy nghi, mà bản thân người bị yêu cầu cũng không rõ lý do vì sao. Quy định về yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp so với LDN 2005 tuy mới nhưng suy cho cùng không mang lại hiệu quả như mong đợi, thay vào đó còn làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp trở nên rườm rà và thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp bị kéo dài hơn. Bởi lẽ, nếu bị yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp, thời hạn để doanh nghiệp hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp có thể bị kéo dài thêm 10 ngày so với thời hạn thông thường. Trong khi đó, theo chủ trương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sắp tới cần theo hướng đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp hơn nữa.

Để phù hợp với chủ trương của Bộ cũng như giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp, LDN 2014 nên bỏ yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với người thành lập doanh nghiệp. Hơn nữa, thực tế trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn nhận, nếu người thành lập doanh nghiệp rơi vào các trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp còn lại của khoản 2 Điều 18 LDN 2014 thì vốn dĩ cơ quan ĐKKD cũng chỉ có thể hậu kiểm, tức phát hiện hay kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy CNĐKDN, cho nên trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp do trước đó doanh nghiệp của người này bị tòa án tuyên bố phá sản cũng nên áp dụng tương tự như vậy./.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014): “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ (VĐL) của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập”. Như vậy, bước đầu LDN 2014 đưa ra định nghĩa chung về “góp vốn”, sau đó chia “góp vốn” thành hai trường hợp

  • Góp vốn để thành lập doanh nghiệp
  • Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập.

Mặc dù, hai trường hợp góp vốn này không được định nghĩa chính thức trong LDN 2014, nhưng dựa vào một số quy định liên quan, luật sư tư vấn doanh nghiệp có thể phân tích như sau:

Góp vốn để thành lập doanh nghiệp: Là trường hợp cá nhân, tổ chức góp tài sản theo cam kết nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp. Cam kết này hình thành trước khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN), hay có thể hiểu theo cách khác cam kết hình thành trước khi doanh nghiệp chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý và tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức trong giai đoạn này sẽ tạo thành VĐL ban đầu để doanh nghiệp hoạt động.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập: là trường hợp cá nhân, tổ chức tiến hành góp tài sản để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn của họ được hình thành khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, tức là sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNDDKDN. Tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức không tạo lập nên VĐL ban đầu cho doanh nghiệp mà những tài sản này sẽ làm gia tăng VĐL sẵn có của doanh nghiệp.

Nếu chỉ giới hạn khái niệm “góp vốn” ở hai trường hợp nêu trên thì quả thực khoản 13 Điều 4 LDN 2014 liệt kê chưa đầy đủ các trường hợp góp vốn. Trên thực tế, trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, chúng tôi thấy rõ việc các trường hợp cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG hoàn toàn không có hành vi trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp; thậm chí PVG mà họ được thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ, nhận chuyển nhượng cũng không nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp hay làm tăng thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập. Có nghĩa, việc sở hữu PVG cả cá nhân, tổ chức này không thuộc hai trường hợp góp vốn được liệt kê tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014. Thế nhưng, điều này không thể phủ nhận việc họ góp vốn vào doanh nghiệp . Tại sao chúng tôi lại ghi nhận như thế? Vì khi xét đến định nghĩa chung về góp vốn tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014 thì cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG vẫn sở hữu PVG tạo thành VĐL của doanh nghiệp, họ vẫn được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do vậy, về bản chất, những đối tượng này vẫn có hành vi góp vốn một cách “gián tiếp” cho dù không thực hiện hai hành vi góp vốn quy định tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014.

Từ những điểm bất cập nêu trên, luật sư tư vấn doanh nghiệp thiết nghĩ khoản 13 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về “góp vốn” theo cách thức liệt kê là chưa thực sự hợp lý. Khoản 13 Điều 4 LDN 2014 nên lược bỏ quy định liệt kê hai hành vi góp vốn là: (1) Góp vốn để thành lập doanh nghiệp và (2) Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập; thay vào chỉ nên giữ lại phần định nghĩa chung về “góp vốn”. Với cách quy định khái quát, nêu rõ bản chất của “góp vốn” là gì, sẽ giúp quy định của LDN 2014 ổn định hơn và bao quát tất cả các trường hợp góp vốn hiện còn bỏ sót, kể cả những trường hợp góp vốn có thể sẽ phát sinh dưới những hình thái khác trong tương lai./.

Công ty Luật Giải Pháp Việt tham dự hội thảo tham vấn báo cáo nghiên cứu Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài

Ngày 15/6/2020, Bộ Tư pháp, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP Việt Nam) và Đại sứ quán Anh tại Hà Nội tổ chức “Hội thảo tham vấn Báo cáo nghiên cứu về các quy định của Luật mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài”. Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật Giải Pháp Việt đã có buổi tham dự và chia sẻ thông tin cùng các chuyên gia.

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm tham dự hội thảo tham vấn (Nguôn hình ảnh: UNDP)

Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài nói chung và việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài hiệu quả có một vai trò, tác động quan trọng đối với tiến trình Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, là yếu tố góp phần xây dựng một môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch và quyết tâm cải cách pháp luật, cảnh cách tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc – (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Cùng với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, Luật Mẫu của Ủy ban Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 (được bổ sung năm 2006) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về trọng tài với mục đích hài hòa hóa pháp luật của các quốc gia về trọng tài thương mại; áp dụng thống nhất thủ tục tố tụng trọng tài để giải quyết hiệu quả các tranh chấp thương mại quốc tế, nhất là việc quy định rõ trách nhiệm của tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài. Sự ưu việt của Luật mẫu thể hiện ở thực tế là cho đến thời điểm hiện nay đã có 83 quốc gia và 116 hệ thống pháp luật áp dụng các quy định của Luật này. Vì vậy, việc nghiên cứu quy định của Luật mẫu, so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam để từ đó có những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trọng tài là rất thiết thực.

 

Hội thảo tham vấn được tổ chức nhằm thu thập ý kiến bình luận, góp ý của các chuyên gia đối với dự thảo Báo cáo và thảo luận về khả năng áp dụng các quy định này của Luật Mẫu UNCITRAL tại Việt Nam dưới góc nhìn đa dạng từ các chuyên gia. Bên cạnh đó, Hội thảo cũng chia sẻ và thảo luận về những kinh nghiệm quốc tế về áp dụng, thực thi các quy định của Luật Mẫu UNCITRAL liên quan đến công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài, qua đó đưa ra những đề xuất đối với Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dung – Chánh toà Kinh tế TAND TP.HCM phát biểu tại hội thảo (Nguồn hình ảnh: UNDP).

Các ý kiến phát biểu đều cho rằng báo cáo được chuẩn bị rất công phu, có nhiều thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, cần phải cung cấp thêm các số liệu thực tiễn và các khuyến nghị cần phải cụ thể, chi tiết và sát với thực tiễn của Việt Nam hơn.

Giáo sư Richard Garnet của trường Đại học Melbourne tại Ôxtrâylia đã tham dự hội thảo từ xa và trình bày kinh nghiệm thực thi Luật Mẫu tại một số khu vực pháp lý tại châu Á – Thái Bình Dương, cho ý kiến đóng góp để các chuyên gia trong nước chỉnh lý báo cáo (Nguồn hình ảnh: UNDP)

Bắt đầu từ tháng 7/2019, Việt Nam đã bắt đầu đảm nhận vai trò thành viên UNCITRAL nhiệm kỳ 2019-2025, trở thành thành viên của UNCITRAL trong nhiệm kỳ mới này là “cơ hội vàng” bởi chúng ta sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào quá trình thảo luận, xem xét các vấn đề mà các quốc gia, doanh nghiệp, cá nhân đặt ra trong các vấn đề thương mại quốc tế. Việt Nam cũng sẽ có tiếng nói sớm hơn, sâu hơn đối với các văn bản, văn kiện được xem xét; nhờ đó không chỉ có thể đóng góp vào công việc chung của thương mại quốc tế mà còn có thể bảo đảm những lợi ích chính đáng của mình.

“Một vấn đề nữa là quá trình tham gia đó sẽ giúp chúng ta tích lũy thêm kinh nghiệm, trí thức để vận dụng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của chúng ta, thực thi tốt hơn những công ước ở trong nước, đào tạo cán bộ, tăng cường khả năng phối hợp giữa các bộ ngành liên quan.Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Việt Nam phải tham vấn các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao năng lực pháp lý nói chung không chỉ của cơ quan nhà nước mà cả các cơ chế, các trung tâm trọng tài và các doanh nghiệp…Một trong những vấn đề đang được trao đổi rất nhiều hiện nay là chúng ta nên cân nhắc đến vấn đề thay đổi một số cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và các nhà đầu tư. Việt Nam là một trong những điểm đến, thu hút nhiều đầu tư nước ngoài” – Luật sư Tâm chia sẻ cùng các chuyên gia.

Trong tương lai chắc chắn sẽ nảy sinh những tranh chấp giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp Việt Nam, nên vấn đề thay đổi hệ thống này cho hiệu quả hơn là rất quan trọng. Câu hỏi được đặt ra là nếu xảy ra tranh chấp thì quá trình giải quyết có thể kéo dài, tốn kém, liệu có khách quan hay không, có bảo vệ được lợi ích của cả hai bên hay không? Đối với các quốc gia đang phát triển với tình trạng đội ngũ luật sư, tri thức về luật còn hạn chế, nguồn tài chính hạn chế … thì làm sao giảm thiểu tranh chấp. Và khi xảy ra tranh chấp và đưa ra các cơ chế pháp lý quốc tế như trọng tài thương mại hoặc các cơ chế khác thì làm sao phải đảm bảo lợi ích chính đáng công bằng cho cả hai bên. Việc chúng ta tham gia được vào thảo luận, nghiên cứu, thương lượng trong các nhóm tại UNCITRAL giúp chúng ta đóng góp được ngay từ quá trình định hình các thể chế quốc tế. Từ đó, chúng ta có kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của chính mình, trước hết là trong lĩnh vực thương mại./.

Theo công ty Luật Giải Pháp Việt

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Ngày 11/6/2020, Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương tổ chức họp mặt hội viên 6 tháng đầu năm và Lễ kết nạp Hội viên mới. Tiếp nối những kết quả đạt được trong những năm qua, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt vinh dự trở thành Hội viên Hội Doanh nhân trẻ Bình Dương.

Luật sư Khưu Thanh Tâm tại buổi họp mặt và trao giấy chứng nhận.

Tham gia Hội viên Hội doanh nhân trẻ Bình Dương với mục tiêu liên kết hợp tác và cùng hỗ trợ nhau để phát triển. Trong thời gian sắp tới, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt hy vọng sẽ có thể hỗ trợ tư vấn pháp lý và phổ biến pháp luật cho cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trẻ và người dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham gia Hội doanh nhân trẻ Bình Dương

Bên cạnh đó, Giải Pháp Việt sẽ phối hợp, đồng hành cùng các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động xã hội và lan toả những hành động tốt đẹp vì cộng đồng tỉnh Bình Dương. Với mục đích góp phần nhỏ của mình hỗ trợ những hoàn cảnh và điều kiện sống khó khăn, san sẻ một phần và tạo động lực để họ vươn lên trong cuộc sống. Chúng tôi thiết nghĩ hoạt động cộng đồng không những là tấm lòng tương thân tương ái mà còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội địa phương, xây dựng thành công thành phố thông minh Bình Dương./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế”

Sáng ngày 09/06/2020, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm – Giám đốc điều hành công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt tham dự buổi hội thảo “Hoàn thiện các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và Luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế” do Khoa Luật trường – Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP. Hồ Chí Minh (HUFLIT) tổ chức. (Luật sư tư vấn luật  doanh nghiệp)

Quang cảnh hội thảo

TS. Bùi Kim Hiếu – Trưởng Khoa Luật trường Đại học Ngoại Ngữ – Tin Học TP.HCM bắt đầu với chủ đề “Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp – Bất cập và hướng hoàn thiện”. Theo tiến sĩ, hiện nay ở Việt Nam đã hình thành nhiều khu công nghiệp chính vì vậy sự chú trọng về ưu đãi đối với các doanh nghiệp tại đây là một điều khá quan trọng và cần hoàn thiện nhằm phù hợp với pháp luật hiện hành.

Phát biểu tại hội thảo, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm chia sẻ:

Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm phát biểu tại hội thảo (Nguồn ảnh: Huflit)

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang thực hiện ở nước ta, có nhiều vấn đề mới nảy sinh, một số ngành nghề mới xuất hiện mà chưa có pháp luật điều chỉnh. Đáng lưu ý hơn, sau tình hình dịch bệnh Covid -19, chúng ta cần cân nhắc đến các biện pháp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, bởi đây là yếu tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài sau đợt khủng hoảng này. Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng nêu ví dụ cụ thể, liên quan đến điều khoản về bảo đảm đầu tư khi có sự thay đổi của pháp luật đã được quy định tại Điều 13 của Luật Đầu tư, tuy nhiên, quy định này mới chỉ dừng lại ở sự thay đổi văn bản pháp luật về ưu đãi đầu tư. Trong quá trình luật sư tư vấn luật doanh nghiệp, tư vấn pháp lý thường xuyên cho doanh nghiệp thì nhà đầu tư đòi hỏi nhiều hơn thế, bao gồm: bảo đảm quyền sở hữu tài sản từ hữu hình cho đến sở hữu về trí tuệ, bảo đảm chuyển tài sản và lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư ra nước ngoài, bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, bảo đảm đầu tư đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.

Bên cạnh đó, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm cũng chia sẻ về các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cần phải tạo được sự cạnh tranh lành mạnh. Cụ thể, kể từ khi chúng ta có Luật Đầu tư nước ngoài, rất nhiều đạo luật liên quan đến doanh nghiệp, đầu tư đều đưa vào các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế. Công thức cơ bản chúng ta thường thấy là miễn thuế 5 năm đầu, 9 năm tiếp theo được miễn giảm 50% đối với thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chúng ta có thể tìm thấy những ưu đãi thuế ở rất nhiều luật, quy định về đặc khu kinh tế đến khu chế xuất, khu công nghiệp… Nhưng liệu những ưu đãi này có thực sự phát huy tác dụng đối với doanh nghiệp? Với nhiều doanh nghiệp, dự án đầu tư, những năm đầu hoạt động sản xuất – kinh doanh, lợi nhuận không có thì lấy gì nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, chính sách miễn thuế thực chất có phát huy tác dụng hay không? Hết giai đoạn miễn thuế, đến giai đoạn giảm thuế 50%, vẫn có nhiều doanh nghiệp hàng chục năm sau vẫn không có thu nhập để nộp thuế. Nguyên nhân thì có nhiều và không loại trừ trường hợp doanh nghiệp gian dối thu nhập.

Chưa kể vấn đề về cách thức được nhận ưu đãi. Doanh nghiệp không được tự động ưu đãi, tức là cứ đáp ứng đủ điều kiện thì được ưu đãi mà vẫn phải qua sự xét duyệt của cơ quan quản lý. Và hậu quả là có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hưởng mức ưu đãi cao hơn, thời gian kéo dài hơn so với quy định chung. Vô hình trung, chính sách miễn giảm thuế đã tạo ra kẽ hở để người ta lợi dụng, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh.

Hội thảo năm nay đã thu hút nhiều bài tham luận của các phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia về luật, các luật sư đến từ các công ty Luật uy tín, các giảng viên ngành luật tại nhiều trường Đại học nổi tiếng ở Việt Nam với nhiều góc nhìn đa chiều về các quy định pháp luật hiện nay.

Ngoài ra, buổi hội thảo được nhiều phiên thảo luận về các vấn đề khác nhau như: pháp luật về hộ kinh doanh gia đình;  quản lý các công ty cổ phần; góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất; pháp luật về con dấu của doanh nghiệp… hội thảo cũng bàn luận đến những điểm mới của Luật cạnh tranh 2018; về những điểm cạnh tranh không lành mạnh trong một số lĩnh vực; về các mối quan hệ giữa luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ.

Theo luật sư tư vấn luật doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Luật sư tư vấn đấu thầu: Trục lợi từ việc mua thiết bị chống Covid-19 vi phạm nghiệm trọng quy định về đấu thầu

Luật sư tư vấn đấu thầu công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt chia sẻ những thông tin liên quan đến việc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội trục lợi từ việc mua thiết bị chống Covid-19 vi phạm nghiệm trọng quy định về đấu thầu.

Từ đầu năm 2020, nhằm đáp ứng nhu cầu xét nghiệm phòng, chống dịch Covid-19, Trung tâm kiểm soát bệnh tật  (gọi tắt CDC) Hà Nội đã thực hiện mua sắm một số hệ thống Realtime PCR tự động, bao gồm các máy tách chiết mẫu, máy phân tích mẫu và phụ tùng, chi phí bảo trì sẽ được thực hiện từ các doanh nghiệp. Do thời gian gấp và mang tính cấp bách nên việc mua sắm này được CDC Hà Nội thực hiện theo phương thức chỉ định thầu. Tuy nhiên, các hệ thống Realtime PCR tự động đã được CDC Hà Nội đưa vào gói thầu với giá hơn 7 tỉ đồng/hệ thống, cao hơn rất nhiều so với giá thị trường.

Được biết, CDC Hà Nội đã căn cứ vào mức giá đề xuất của Công ty CP định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành, tuy nhiên qua xác minh cho thấy các hệ thống Realtime PCR tự động có giá trị thực tế chỉ hơn 4 tỉ đồng. Điều này cho thấy, CDC Hà Nội và các doanh nghiệp đã móc ngoặc với nhau đẩy giá lên cao để trục lợi khoản chênh lệch. 

Chiều 22.4, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) trực thuộc Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại CDC Hà Nội (thuộc Sở Y tế Hà Nội) và một số đơn vị liên quan. Đồng thời ra quyết định khởi tố bị can, thực hiện các lệnh khám xét và lệnh bắt bị can để tạm giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với 7 đối tượng về hành vi vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, quy định tại điều 222 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vậy pháp luật quy định như thế nào về Điều 222 “Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” BLHS 2015 SĐBS 2017 là như thế nào?

Luật sư tư vấn đấu thầu

Nhà nước quản lý hoạt động đấu thầu thông qua Luật đấu thầu 2013 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành. Hiện nay Luật đấu thầu chỉ điều chỉnh hoạt động đấu thầu các dự án đầu tư có nguồn vốn nhà nước, các dự án đầu tư theo hợp đồng đối tác công tư (PPP), các dự án đầu tư có sử dụng đất. Còn các hoạt động đấu thầu các dự án khác thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu. Do đó, nếu như có các hành vi vi phạm trong đấu thầu các dự án loại này, tùy vào mức độ thiệt hại mà xem xét ở các hành vi phạm tội khác, không cấu thành tội vi phạm các quy định về đấu thầu.

Theo luật sư tư vấn đấu thầu, tại Điều 89 Luật Đấu thầu đã có quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu và Điều 90 có quy định về xử lý vi phạm. Luật Đấu thầu và các nghị định hướng dẫn cũng đã có quy định về xử lý hành vi tiêu cực, các chế tài theo quy định về hành chính. Tuy nhiên, tại Khoản 1 Điều 90 của Luật Đấu thầu có quy định rằng: “Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Như vậy, việc Bộ luật Hình sự 2015 có quy định tại Điều 222 về “Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” chính là sự nối tiếp quy định tại Điều 90 của Luật Đấu thầu 2013 và tạo ra sự đồng bộ về hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý hành vi tiêu cực cũng như răn đe đối với các đối tượng thực hiện hành vi tiêu cực trong đấu thầu.

Điều 222 không chỉ nhắm đến nhà thầu, chủ đầu tư mà còn nhắm đến tất cả các đối tượng liên quan. Tại Khoản 1 của Điều 222 có quy định: “Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây…”, nghĩa là bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào mà có thực hiện hành vi đó, bao gồm cả nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cơ quan thanh tra, kiểm toán, những người có thẩm quyền,… nếu có thực hiện các hành vi được liệt kê tại Khoản 1 Điều 222 thì đều là đối tượng điều chỉnh của điều này. Quy định này đã tạo được một chế tài công bằng, cả phía cơ quan nhà nước và cả phía doanh nghiệp, nhà thầu, mà không thiên lệch, nương nhẹ cho bất kỳ đối tượng nào.

Thực tế hiện nay, tình trạng “thông thầu” thường là sự dàn xếp giữa một và nhiều bên tham gia đấu thầu để tạo lợi thế riêng cho mình, tạo sự cạnh tranh không công bằng, để cho một bên trúng thầu. Việc thông thầu có thể xảy ra theo các hình thức là: giữa các nhà thầu với nhau cùng tham dự thầu, giữa bên mời thầu với nhà thầu, hoặc giữa chủ đầu tư với nhà thầu, thậm chí cả với cơ quan thẩm định… Nên luật sẽ rất công bằng, nếu cứ thực hiện hành vi như vậy thì bị xử lý theo đúng quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 222 của Bộ luật Hình sự và khung xử phạt sẽ bị xử lý theo quy định tại Điểm b Khoản 2 của Điều 222 này (phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm). 

Lời khuyên mà luật sư tư vấn đấu thầu dành cho tất cả các chủ đầu tư, doanh nghiệp là hãy kinh doanh nghiêm túc, nâng cao tính chuyên môn, chuyên nghiệp, bài bản và nên dựa vào các hiệp hội nghề nghiệp như là Hiệp hội Nhà thầu xây dựng, hoặc các hiệp hội ngành nghề hoặc Văn phòng Luật sư tư vấn uy tín để có những tư vấn pháp lý cần thiết, tránh vì sự  thiếu hiểu biết dẫn đến những vi phạm không đáng có.

Đặc biệt, phải tự thân nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao năng lực, kinh nghiệm và chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu từ việc nghiên cứu, nắm rõ các quy định của pháp luật, nhất là các chế tài như thế này. Đồng thời, khi tham gia đấu thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng phải bảo đảm tuân thủ theo quy định pháp luật của Nhà nước./.