Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ

Quyết định thành lập doanh nghiệp là một trong những quyết định quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào. Trong giai đoạn này, việc góp vốn là một trong những vấn đề đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm, bởi việc góp vốn là yếu tố tiền đề, cơ sở phân chia lợi nhuận giữa các nhà đầu tư cũng như xác định phạm vi quyền hạn của chủ thể góp vốn đối với việc đưa ra các quyết định quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp sau này. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận nhiều đối tượng mới được sử dụng để góp vốn thành lập doanh nghiệp, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm vốn góp thành lập doanh nghiệp vẫn chưa được phổ biến và còn nhiều hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Như vậy, góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ là việc các chủ thể chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đối với tài sản trí tuệ của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh nghiệp. Do đó, để tiến hành góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ cần phải thoả mãn các điều kiện sau:

Một là, về chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp là chủ sở hữu các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

Hai là, việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng của tài sản trí tuệ ngoài việc tuân theo những quy định của pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp nói chung còn phải tuân theo các quy định riêng về trình tự, thủ tục chuyển giao quyền của Luật Sở hữu trí tuệ;

Ba là, về thời hạn góp vốn thành lập doanh nghiệp do các bên thỏa thuận, tuy nhiên phải xem xét đến yếu tố thời hạn bảo hộ của đối tượng sở hữu trí tuệ;

Bốn là, khi góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu chỉ có thể góp vốn bằng quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ không được sử dụng để góp vốn;

Năm là, việc xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp khá phức tạp và chủ yếu tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên tham gia góp vốn.

Sau khi đã tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, để hoàn tất thủ tục góp vốn thành viên góp vốn phải tiến hành chuyển giao quyền sở hữu/quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp cho doanh nghiệp. Theo đó, trong trường hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc chuyển giao quyền sở hữu/quyền sử dụng không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký mà thành viên góp vốn chuyển giao tài sản đó cho doanh nghiệp có xác nhận bằng biên bản. Cụ thể, các đối tượng sở hữu công nghiệp không phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: quyền tác giả; quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại; quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được xác lập trên cơ sở đăng ký bảo hộ như quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu thì thủ tục chuyển quyền sở hữu trí tuệ sang cho doanh nghiệp được thực hiện theo thủ tục đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Trong trường hợp hết thời hạn góp vốn hoặc do các bên thỏa thuận chấm dứt việc góp vốn, mà vẫn chưa hết thời hạn được bảo hộ đối với quyền sở hữu trí tuệ tương ứng thì bên góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được nhận lại quyền sở hữu trí tuệ đó. Nếu bên góp vốn không có nhu cầu sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, thì doanh nghiệp nhận góp vốn vẫn có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ này, nếu được sự đồng ý của bên góp vốn. Nếu thời hạn bảo hộ đối với quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn đã hết, thì doanh nghiệp nhận góp vốn được vẫn được quyền sử dụng nhưng trong trường hợp này sẽ không được quyền sở hữu, nghĩa là không loại trừ các tổ chức, cá nhân khác sử dụng quyền sở hữu trí tuệ.

Nếu doanh nghiệp nhận góp vốn hoặc bên góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ bị phá sản, thì quyền sở hữu trí tuệ đã góp vốn được xử lý theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền về việc tuyên bố phá sản. Nếu doanh nghiệp nhận góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ bị giải thể hoặc bên góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là tổ chức bị giải thể, thì quyền sở hữu trí tuệ đã góp vốn được xử lý theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Doanh nghiệp nhận góp vốn thành lập bằng quyền sở hữu trí tuệ phải hạch toán giá trị vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ do bên góp vốn vào tài sản cố định và trích khấu hao vào chi phí hợp lý kinh tính thuế thu nhập doanh nghiệp kể từ khi góp vốn. Như vậy, theo nguyên tắc về việc ghi chép kế toán, chỉ có những quyền sở hữu trí tuệ có chi phí phát sinh thì mới được xem xét để hoạch toán vào vốn góp thành lập doanh nghiệp. Đây là một vấn đề bất cập hiện nay, bởi đối với các doanh nghiệp nhận góp vốn thành lập thì thành viên góp vốn chuyển giao quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sang cho doanh nghiệp và được hưởng các quyền lợi từ doanh nghiệp. Mặc dù, pháp luật có quy định về việc doanh nghiệp nhận góp thành lập bằng quyền sở hữu trí tuệ phải hoạch toán giá trị vốn góp bằng quyền sở hữu trí tuệ do bên góp vốn vào tài sản cố định doanh nghiệp, nhưng lại chưa quy định cụ thể về việc hoạch toán sổ sách kế toán của doanh nghiệp.

Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ. Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp được tạo lập trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Do đó, cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, về nguyên tắc pháp luật sẽ không ràng buộc hoặc hạn chế sự tự do thỏa thuận của các bên.

Ở Việt Nam hiện nay, việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ đã được pháp luật ghi nhận từ khá lâu, tuy nhiên trên thực tế hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ chưa được diễn ra phổ biến. Hiện nay, hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu và quyền sử dụng nhãn hiệu đang được diễn ra phổ biến và sôi động hơn cả. Còn hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu đối với các đối tượng là các giải pháp kỹ thuật hay các quy trình chưa được phổ biến.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Thương mại hóa tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp

Trong quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang ngày càng có nhiều chính sách nhằm hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một trong những chính sách đó là đẩy mạnh việc đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ trong nước cũng như ngoài nước. Do đó, trong những năm qua, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện với mục tiêu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư.

Việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Tuy nhiên, Giải Pháp Việt nhận thấy nhiều nhà sáng chế vẫn chưa thật sự quan tâm đến vấn đề đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho chính những đứa con tinh thần của mình. Số lượng đơn và văn bằng sáng chế của tổ chức, cá nhân Việt Nam còn khá khiêm tốn và chiếm tỷ lệ rất thấp so với các nước trên thế giới. Điều này đã gây ra những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, thậm chí làm mất quyền thương hiệu và nhiều hệ lụy đáng tiếc.

Bên cạnh đăng ký quyền sở hữu trí tuệ thì hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ sau khi đăng ký cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực tiềm năng cho việc khai thác các giá trị thương mại của các đối tượng thuộc về quyền sở hữu trí tuệ. Các hình thức thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ cũng khá đa dạng. Việc thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã được tiến hành đối với tất cả các hình thức thương mại hóa và đã đạt được những thành công bước đầu.

Tuy nhiên hiện nay việc thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và chưa thực sự hiệu quả. Điều này xuất phát từ việc chưa có một quy định pháp luật thống nhất trong việc thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, các quy định về thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ còn nằm rải rác ở rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau và luôn có sự chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định của các văn bản pháp luật này. Ngoài ra, chưa có một cơ quan nào thống nhất quản lý và hướng dẫn cho các doanh nghiệp, cá nhân trong việc thực hiện thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và cộng đồng về quyền sở hữu trí tuệ cũng như giải quyết các khó khăn trong việc thương mại hóa tài sản trí tuệ, Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO), Hiệp hội Xúc tiến Sáng chế Hàn Quốc (KIPA) và Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (IP Viet Nam) hợp tác với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) và Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ Việt Nam (VIPRI) tổ chức Hội thảo thương mại hoá tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp năm 2018. Tại buổi hội thảo, các chuyên gia Việt Nam và Hàn Quốc đã cùng nhau tham gia trình bày, chia sẻ các chính sách thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ của mỗi nước. Bên cạnh đó, các đại biểu tham dự cũng cùng nhau thảo luận về việc chuyển giao công nghệ nhằm mục đích thiết lập thị trường mới và chu kỳ kinh doanh sở hữu trí tuệ dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thông qua buổi hội thảo, Giải Pháp Việt hy vọng nhận thức về sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp và cộng đồng sẽ ngày càng được nâng lên. Các doanh nghiệp từ đó sẽ nâng cao ý thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm, định vị được thương hiệu của mình một cách hiệu quả, khẳng định được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn có tranh chấp quyền nuôi con, tranh chấp tài sản hình thành trước và trong thời kỳ hôn nhân

Quan hệ hôn nhân và gia đình là một quan hệ pháp luật đặc biệt, tồn tại trong đó vừa là quan hệ tài sản vừa là quan hệ nhân thân, tình cảm. Khi xảy ra vấn đề tranh chấp, quan hệ hôn nhân và gia đình luôn là những tranh chấp phức tạp. Tranh chấp quyền nuôi con, tài sản là vấn đề khiến nhiều cặp vợ chồng phải nhờ toà phân xử dù cả hai thuận tình ly hôn.

Thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2018, Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ luật sư Việt Nam phối hợp với Cơ quan đại diện Liên đoàn Luật sư Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ luật sư với Chuyên đề “Thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn có tranh chấp quyền nuôi con, tranh chấp tài sản hình thành trước và trong thời kỳ hôn nhân”.

Trong hầu hết các vụ án ly hôn, việc tranh giành hay bác bỏ quyền/nghĩa vụ nuôi con vẫn luôn căng thẳng không kém gì việc phân chia tài sản. Tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn là việc vợ chồng không thỏa thuận được với nhau ai sẽ là người nuôi con và có yêu cầu tòa án giải quyết việc phân định quyền nuôi con. Trong thời gian diễn ra khóa bồi dưỡng, công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt cùng với các học viên đã có buổi trao đổi và đưa ra các vấn đề liên quan đến quyền nuôi con, tranh chấp tài sản.

Tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn đối với con dưới 36 tháng tuổi

“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Như vậy đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi nếu người mẹ không đủ điều kiện nuôi con thì người cha có thể yêu cầu tòa án được giành quyền nuôi con. Trong trường hợp này người cha vừa phải chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện nuôi còn vừa phải chứng minh được khả năng nuôi con của mình.

Tranh chấp giành quyền nuôi con khi ly hôn đối với con trên 36 tháng tuổi

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Sẽ có hai trường hợp như sau:

Nếu vợ chồng thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn thì tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của các bên và ghi nhận trong quyết định hoặc bản án ly hôn.

Nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì tòa án sẽ giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ về mọi mặt của con. Trong trường hợp bên nào có yêu cầu nuôi con phải chứng minh được việc đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con.

Tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn đối với con trên 7 tuổi

Đối với tranh chấp giành quyền nuôi con trên 7 tuổi thì việc xem xét nguyện vọng của đứa trẻ sẽ là một trong những căn cứ quan trọng để tòa quyết định về việc trao quyền nuôi con cho ai.

Như vậy, theo các quy định nêu trên, để bảo đảm quyền lợi của người con, tòa án phải lấy ý kiến của người con, xem xét nguyện vọng của người con từ đủ bảy tuổi trở lên; phương pháp lấy ý kiến phải bảo đảm thân thiện với trẻ em. Tuy nhiên, tòa án phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con để quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng.

Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Sau khi thủ tục ly hôn được giải quyết xong, người trực tiếp nuôi con mà không chăm lo được tốt cho đứa trẻ, thì người cha mẹ không trực tiếp nuôi hoặc các cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Đối với chấp tài sản, để giải quyết chúng ta phải quan tâm đến các vấn đề sau

Thời điểm hình thành tài sản: theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác về chế độ tài sản chung, các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân là thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp, được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn cho đến thời điểm chấm dứt hôn nhân.

Như vậy, nếu bất động sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân luôn được coi là tài sản chung của vợ chồng ngay cả khi chỉ đứng tên một người. Trường hợp bất động sản được tạo lập trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân và chỉ đứng tên một người thì được xác định là tài sản riêng của người đó.

Nguồn gốc của việc hình thành tài sản: tức là đi tìm nguồn gốc của số tiền dùng để nhận chuyển nhượng bất động sản. Luật Hôn nhân gia đình xác định “tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ/chồng là tài sản riêng của vợ/chồng”. Như vậy, vợ/chồng sử dụng tiền là tài sản riêng của mình để mua tài sản trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được mua đó được coi là tài sản của người vợ/chồng mà không được coi là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.

Nếu bất động sản được vợ/chồng nhận chuyển nhượng bằng tài sản riêng của mình, chỉ đứng tên của người đó, thì được xác định là tài sản riêng. Tuy nhiên việc chứng minh là tài sản riêng sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi tiền là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu và rất khó xác định thời điểm hình thành.

Luật Hôn nhân gia đình quy định “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ/chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Khi một bên vợ/chồng cho rằng tài sản đang đứng tên mình là tài sản riêng của mình thì người đó có nghĩa vụ chứng minh, người yêu cầu xác định là tài sản chung không bắt buộc phải chứng minh. Nếu không chứng minh được là tài sản riêng, thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tài sản của vợ/chồng được thừa kế theo pháp luật: Trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc người chồng là người thuộc hàng thừa kế và được chia di sản theo pháp luật. Sau đó, người vợ/chồng được hưởng thừa kế mặc dù không có văn bản thỏa thuận sáp nhật tài sản được thừa kế vào khối tài sản chung nhưng cả hai vợ chồng đều cùng nhau sử dụng. Khi phát sinh tranh chấp, một bên cho rằng đó là tài sản chung và yêu cầu được chia tài sản.

Luật Hôn nhân gia đình quy định, việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, việc cùng sử dụng tài sản không có ý nghĩa chứng minh tài sản chung. Thừa kế theo pháp luật luôn là thừa kế riêng của người vợ/chồng nằm trong hàng thừa kế, tài sản đươc thừa kế theo pháp luật luôn là tài sản riêng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Do vậy, tài sản có tranh chấp phải được xác định là tài sản riêng của người được thừa kế.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Xây dựng Khu đông Thành phố Hồ Chí Minh thành Đô thị sáng tạo

Với vị thế là trung tâm kinh tế, chính trị lớn của khu vực phía Nam, Tp. Hồ Chí Minh đã không ngừng đổi mới và phát triển trong những năm qua. Bên cạnh đó, với định hướng hình thành và phát triển thành một khu đô thị sáng tạo, Tp. Hồ Chí Minh đã và đang xây dựng các chính sách, kế hoạch nhằm đáp ứng các tiêu chí của một khu đô thị sáng tạo.

Đô thị sáng tạo hiện được xem là trọng tâm của các chiều kích tăng trưởng, là trung tâm hội tụ các ngành nghề khác nhau, tăng cường tương tác cho đa ngành. Đô thị sáng tạo cũng là nơi ươm mầm hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, tạo ra các cơ hội kinh doanh mới, cung cấp những tiện ích và dịch vụ mới nhằm phục vụ người dân và giải phóng năng lượng sáng tạo của con người. Khu đô thị sáng tạo được mong đợi sẽ đóng vai trò hạt nhân của cuộc cách mạng 4.0 và đầu tàu phát triển cho Tp. Hồ Chí Minh. Không chỉ là nơi thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao, khu đô thị còn tạo thêm việc làm cho người dân trước sức ép gia tăng dân số tại chỗ và tỷ lệ người dân ngoại tỉnh tập trung vào Hồ Chí Minh ngày càng đông. Qua đó, chất lượng sống được đảm bảo hơn và có sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên với cảnh quan kiến trúc đô thị.

Trong quá trình hỗ trợ, tư vấn cho nhiều doanh nghiệp, Giải Pháp Việt nhận ra rằng việc xây dựng khu đô thị sáng tạo dù sẽ mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn và rào cản trong quá trình thực hiện. Cụ thể như, ở thời điểm hiện tại, ngân sách Nhà nước còn khá thấp và chưa đủ khả năng để đầu tư phát triển. Vì vậy, Nhà nước cần phải phát triển nhiều chính sách ưu đãi tăng cường thu hút các dự án phát triển đô thị có quy mô lớn bằng hình thức đặc thù như BT, BOT, phát hành trái phiếu hoặc thông qua các chính sách đầu tư bất động sản… Bên cạnh đó, Khu đông Tp. Hồ Chí Minh cũng vướng nhiều khó khăn trong việc triển khai kế hoạch khi mà giá đất tại quận 2, quận 9, Thủ Đức tăng cao với hiện trạng phân lô, bán nền, thậm chí là giá ảo. Hơn nữa, hệ thống giao thông công cộng còn hạn chế và tình trạng hơn 85% người dân sử dụng phương tiện cá nhân cũng gây ra nhiều cản trở.

Để tìm ra các giải pháp xây dựng và xóa bỏ những rào cản trên, Sở ngoại vụ Tp. Hồ Chí Minh phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp Tp. Hồ Chí Minh tổ chức Diễn đàn kinh tế Tp. Hồ Chí Minh năm 2018 với chủ đề: Kiến tạo Đô thị sáng tạo, Tương tác – Vai trò động lực của Doanh nghiệp. Với sự tham gia của Lãnh đạo cấp cao Chính phủ Việt Nam, Lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh, các Bộ, Ban ngành trung ương, lãnh đạo Tp. Hồ Chí Minh, diễn giả, chuyên gia trong nước và quốc tế, các nhà khoa học cùng khoảng 600 doanh nghiệp trong và ngoài nước, diễn đàn chia sẻ và trao đổi về các nội dung chính sau:

– Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng phát triển đô thị sáng tạo.

– Xu hướng, các mô hình, vai trò, tác động của các đô thị sáng tạo đối với việc tăng tốc phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia, địa phương theo hướng phát triển nhanh và bền vững.

– Chủ trương xây dựng khu vực phía Đông thành phố theo xu hướng Đô thị sáng tạo nhằm thu hút đầu tư, định hướng đầu tư, định hướng sự phát triển của doanh nghiệp.

– Vai trò động lực của doanh nghệp trong quá trình kiến tạo đô thị sáng tạo (đặc biệt là hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của doanh nghiệp) đề xuất giải pháp thúc đẩy, tạo động lực cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Diễn đàn đã diễn ra thành công và mang lại nhiều giải pháp mới đầy hiệu quả cho việc nâng cao năng lực sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp cũng như tăng cường quan hệ liên kết, tương tác giữa các doanh nghiệp và cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xây dựng đô thị sáng tạo.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Người nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam: Vấn đề phát sinh trong quy định về quản lý số lượng căn hộ tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu

Ngày 25/11/2014, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Nhà ở 2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, một trong những điểm mới của Luật Nhà ở là đã chính thức ghi nhận Quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể, các đối tượng nước ngoài được quyền mua nhà ở bao gồm:

– Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự.

– Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (gọi chung là tổ chức nước ngoài).

Tuy nhiên, các cá nhân và tổ chức nước ngoài chỉ được phép sở hữu nhà ở trong các dự án nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Bên cạnh đó, cá nhân và tổ chức nước ngoài chỉ được sở hữu một số lượng nhà ở nhất định trong một dự án. Cụ thể, Luật Nhà ở đã quy định tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương đơn vị hành chính cấp phường thì không quá 250 căn nhà.

Khi ban hành các quy định trên, thì một trong những vấn đề mà doanh nghiệp và nhà đầu tư quan tâm là việc quản lý số lượng người nước ngoài tại một dự án như thế nào? Để hướng dẫn, điều chỉnh quy định trên, lần lượt Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở; và Thông tư 19/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn Nghị định 99/2015 đã ban hành quy trình để thực hiện việc đăng ký bán nhà ở cho tổ chức nước ngoài để các cơ quan có thẩm quyền có thể kiểm soát số lượng sở hữu của người nước ngoài trong dự án. Cụ thể tại Điều 79 Nghị định 99/2015 quy định: Sở Xây dựng sẽ lập trên cổng thông tin điện tử của Sở để đăng tải và quản lý các thông tin về các dự án, cũng như số lượng sở hữu của người nước ngoài tại địa phương. Trước khi ký hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở, chủ đầu tư, bên tặng cho phải kiểm tra thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng hoặc đề nghị Sở Xây dựng cung cấp thông tin để xác định số lượng nhà ở được bán, được tặng cho, Sở Xây dựng có trách nhiệm cung cấp thông tin trong ngày. Chủ đầu tư và bên tặng cho chỉ được bán hoặc tặng cho nhà ở theo đúng số lượng mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu (30% số lượng căn hộ của một block chung cư, và 10% đối với nhà ở riêng lẻ).

Sau khi ký hợp đồng mua bán, cho thuê mua, tặng cho nhà ở, chủ đầu tư, bên tặng cho có trách nhiệm thông báo ngay thông tin trong ngày (bằng thư điện tử và bằng văn bản) về địa chỉ nhà ở đã bán, cho thuê mua, đã tặng cho đến Sở Xây dựng nơi có nhà ở để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Sở. Trước khi cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phải kiểm tra thông tin do Sở Xây dựng quản lý.

Theo quy định trên thì rõ ràng số lượng sở hữu của người nước ngoài tại một dự án sẽ được kiểm soát một cách chặt chẽ. Chủ đầu tư hoặc bên tặng cho phải kiểm tra thông tin về dự án trước khi ký kết hợp đồng, đồng thời sau khi ký kết phải thông báo để cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Sau khi có xác nhận của Sở Xây dựng thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận mới tiến hành cấp Giấy chứng nhận cho chủ sở hữu. Do đó, số lượng sở hữu của người nước ngoài sẽ không thể vượt quá số lượng cho phép.

Tuy nhiên, trên thực tế đã có những phát sinh liên quan đến quản lý số lượng sở hữu của người nước ngoài mà các quy định của pháp luật vẫn chưa điều chỉnh. Đó là trong trường hợp các chủ sở hữu nhà ở là các tổ chức có vốn đầu tư Việt Nam chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng phần vốn góp của mình, dẫn đến việc công ty trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vậy trong trường hợp trên thì nhà ở mà công ty đang sở hữu sẽ vẫn được xác định là thuộc sở hữu của tổ chức trong nước hay được xác định là thuộc sở hữu của tổ chức nước ngoài?

Căn cứ quy định tại Nghị định 43/2014 hướng dẫn Luật Đất đai thì khi người được cấp Giấy chứng nhận thay đổi thông tin thì phải tiến hành đăng ký biến động. Vậy đối với trường hợp, tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận thì chủ sở hữu là công ty 100% vốn trong nước, sau này công ty chuyển thành công ty có vốn nước ngoài, thì khi đăng ký biến động, hình thức sở hữu của nhà ở đó có thay đổi từ sở hữu trong nước sang sở hữu nước ngoài hay không?

Trong trường hợp, phải xác định thay đổi thành sở hữu của công ty nước ngoài, tuy nhiên, dự án đó đã có đủ số lượng người nước ngoài sở hữu do chủ đầu tư đã bán đủ số lượng 30% căn hộ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận có tiến hành xác nhận đăng ký biến động hay không? Nếu trong trường hợp chấp thuận việc đăng ký biến động thì tỷ lệ sở hữu của người nước ngoài sẽ vượt quá số lượng cho phép, trái quy định của Luật Nhà ở. Nếu không chấp thuận thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở hữu, đồng thời có thể gây khó khăn cho các chủ sở hữu trong việc bán, chuyển nhượng nhà ở đó sau này.

Do đó, đây là một trong những vướng mắc mà các chủ đầu tư, các chủ sở hữu nhà ở thương mại đang gặp phải trong quá trình quản lý, sử dụng nhà ở. Hi vọng rằng, các cơ quan có thẩm quyền sẽ sớm ban hành các quy định để điều chỉnh trường hợp trên, nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà ở thuộc sở hữu của người nước ngoài, đáp ứng nhu cầu sở hữu nhà ở ngày càng tăng của các cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sản phẩm nông nghiệp Việt Nam

Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu lại phân bố thành ba vùng riêng biệt. Bên cạnh đó, với địa hình đa dạng, đặc trưng về không gian và địa lý nên trong quá trình phát triển, Việt Nam đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông sản, thực phẩm và tiểu thủ công nghiệp. Đồng thời, Việt Nam còn là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu gạo, cà phê, tiêu, … và dồi dào về cây công nghiệp, thủy hải sản, … Trong thời gian qua, việc xây dựng thương hiệu nông sản đã đạt được những kết quả nhất định, đặc biệt từ khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp, tổ chức và địa phương chưa thật sự quan tâm tới bảo hộ sở hữu trí tuệ cho nông sản và rất ít nhãn hiệu sản phẩm nông sản Việt Nam đạt được uy tín ở tầm quốc tế.

Theo điều tra sơ bộ của Cục Sở hữu trí tuệ, trên toàn quốc có trên 800 sản phẩm nông – lâm – thủy sản có uy tín phân bố trên 720 địa phương khác nhau. Tuy vậy, mới chỉ có hơn 140 nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể được đăng ký xác lập, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chỉ một số ít trong đó được tiến hành đăng ký bảo hộ ở nước ngoài như: Nước mắm Phú Quốc, Cà phê Buôn Mê Thuột, Nước mắm Phan Thiết, Thanh long Bình Thuận, Vú sữa Lò Rèn, … Thiết nghĩ, việc đăng ký bảo hộ nông sản là một yêu cầu thực tế và là biện pháp phát triển thị trường. Tuy nhiên, để thực hiện được đòi hỏi cam kết, nỗ lực của nhiều bên tham gia từ nông dân, doanh nghiệp đến chính quyền địa phương các cấp.

Nhằm xây dựng chiến lược thương hiệu, bảo vệ thương hiệu nông sản cho các doanh nghiệp Việt Nam góp phần phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, phát triển nền nông nghiệp bền vững và hội nhập, ngày 31/10/2018, Cục công tác phía Nam – Bộ KHCN phối hợp với Trung ương Hội nông dân Việt Nam tổ chức hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sản phẩm nông nghiệp Việt Nam”.

Hội thảo cũng là diễn đàn trao đổi các vấn đề bất cập trong đăng ký và bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhiều chuyên đề phong phú được các diễn giả trình bày như: Tổng quan, vai trò và một số quy định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho các sản phẩm nông nghiệp; Vai trò của Hội nông dân và các hiệp hội trong việc thúc đẩy bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông nghiệp; Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp để thúc đẩy việc bảo hộ, khai thác quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông nghiệp dưới góc nhìn chuyên gia. Xây dựng mối liên hệ gắn kết bốn nhà “Nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học – nhà quản lý” trong bảo hộ và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ nói chung và việc đăng ký bảo hộ nói riêng đã và đang đóng góp tiêu biểu cho việc nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, và là công cụ quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Để gia tăng hiệu quả khai thác giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp sau bảo hộ, Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã đưa ra một số đề xuất trong buổi toạ đàm, trong đó:

– Tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý thị trường, ngăn chặn việc lợi dụng danh tiếng, uy tín của các sản phẩm được bảo hộ để sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

– Các nhà sản xuất nên tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí chất lượng, nguồn gốc sản phẩm…;

– Tăng cường công tác truyền thông thương hiệu, đặc biệt là truyền thông qua internet (mạng xã hội, website…) nhằm nâng cao nhận thức về thương hiệu đối với người tiêu dùng và tạo cơ hội cho tiếp xúc thương hiệu;

– Người tiêu dùng nên tìm hiểu và nâng cao khả năng nhận diện các dấu hiệu bảo hộ đối với sản phẩm.

Toạ đàm đã mang lại nhiều giải pháp xây dựng, bảo hộ và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước. Thông qua đó góp phần định hướng phát triển nông nghiệp nói chung và thị trường tiêu thụ nông sản nói riêng cho sản phẩm nông sản Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Toạ đàm nghề Luật ở Việt Nam

Trong buổi toạ đàm nghề luật ở Việt Nam, Luật sư Khưu Thanh Tâm đã lần lượt chia sẻ với sinh viên về kinh nghiệm học tập và hành trang cần chuẩn bị để khi ra trường có công việc tốt và phát triển nghề nghiệp.

Hiện nay, trong tiến trình hội nhập và hợp tác quốc tế thì nước ta đã và đang tham gia ký kết rất nhiều các hiệp định thương mại trong khu vực cũng như quốc tế. Bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp tại Việt Nam đang ngày một lớn mạnh, do đó, nhu cầu về tư vấn pháp lý nội bộ trong các doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Mặc khác, xã hội cũng ngày càng phát triển dẫn đến phát sinh các mối quan hệ tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro không tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp. Với mong muốn được chia sẻ với sinh viên những kinh nghiệm về nghề Luật từ thực tế, Thạc sĩ – Luật sư Khưu Thanh Tâm (Giám đốc công ty Luật Giải Pháp Việt) cùng các diễn giả đã nhận lời mời tham gia buổi tọa đàm “Nghề Luật ở Việt Nam” của Trường đại học HUFLIT tổ chức thông qua đó giúp các em có định hướng rõ về nghề nghiệp của mình sau này. 

Nghề luật ở Việt Nam (Nguồn hình ảnh: Thư viện pháp luật)

Theo chia sẻ của Luật sư Tâm và các diễn giả, để hành nghề Luật sư thì bên cạnh việc nắm vững kiến thức về pháp luật và nền tảng hiểu biết các vấn đề xã hội, thì Luật sư cần phải có những kỹ năng để áp dụng chúng vào những vụ việc cụ thể. Một trong những kỹ năng cần thiết của mỗi Luật sư khi hành nghề đó là kỹ năng đọc và nghiên cứu hồ sơ. Vì để giải quyết một vụ việc mà khách hàng đặt ra, thì Luật sư cần phải biết cách nghiên cứu hồ sơ, để xác định những vấn đề pháp lý bên trong, qua đó mới có thể áp dụng các quy định pháp luật liên quan và lên kế hoạch giải quyết sao cho hợp lý nhất. Ngoài ra, các kĩ năng mềm như tiếp xúc trao đổi với khách hàng để nắm bắt thông tin và kĩ năng nói, trình bày trước đám đông cũng là kĩ năng quan trọng để Luật sư có thể trình bày ý kiền hoặc tranh tụng tại Tòa. Tất nhiên, để có được những kĩ năng trên thì phải trải qua một quá trình rèn luyện, đúc kết kinh nghiệm. Vì vậy, lời khuyên cho các bạn sinh viên là ngay từ khi ở giảng đường đại học, ngoài việc trau dồi kiến thức chuyên môn, các bạn nên tích cực rèn luyện các kĩ năng mềm, cũng như trình độ ngoại ngữ để làm hành trang cho các bạn trong công việc sau này.

Bên cạnh đó, Luật sư Tâm và các diễn giả cũng chia sẻ, nghề Luật ở Việt Nam cần nắm bắt được các quan hệ xã hội, cũng như những vấn đề pháp lý phát sinh để tư vấn hướng giải quyết cho khách hàng. Ngoài ra, những chính sách và các quy định mới được ban hành cũng là những vấn đề mà Luật sư phải nắm bắt. Cuối cùng, đó là các thông tin về hội nhập Quốc tế là vấn đề cần được quan tâm để tư vấn cho các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình sản xuất, kinh doanh của họ tại Việt Nam.

Khép lại buổi toạ đàm, Luật sư Tâm cũng như các diễn giả đều mong muốn rằng sẽ có nhiều cơ hội hơn nữa để sẻ chia với các bạn sinh viên đang muốn theo nghề Luật ở Việt Nam. Thông qua đó để các em có thể định hướng được hướng đi trên con đường mình đã chọn. Đồng thời cũng muốn nhắn nhủ các em rằng, mặc dù khoa Luật của Trường đại học HUFLIT còn non trẻ so với các Khoa khác của trường nhưng với sự nhiệt huyết, tận tâm của các thầy cô và ý chí kiên định của các em thì các em chính là những hạt nhân góp phần xây dựng cho sự phát triển của Khoa. Đồng thời, trong tương lai gần, các em sẽ là nguồn nhân lực quan trong để góp phần phát triển đất nước.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Hội nghị công bố nhóm sản phẩm chủ lực – Đưa sản phẩm Việt ngang tầm thế giới

Ngoài vị thế là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh còn là đô thị hạt nhân của vùng, nắm giữ vai trò liên kết, hỗ trợ cho sự phát triển của các khu vực lân cận. Mặc khác, Thành phố Hồ Chí Minh còn là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ quan trọng của đất nước. Với những lợi thế đó đã hỗ trợ không nhỏ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công, nông nghiệp trong việc tạo dựng những sản phẩm, thương hiệu mạnh, cung ứng cho thị trường trong và ngoài nước. Đó cũng là nguyên nhân để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong suốt những năm qua.

Đứng trước tiềm năng và cơ hội để phát triển, với mục tiêu xây dựng, đề xuất nhóm sản phẩm công, nông nghiệp chủ lực trên địa bàn để tập trung hỗ trợ phát triển làm động lực cho toàn ngành công, nông nghiệp phát triển. Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các Sở ban ngành tổ chức hội nghị công bố nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố và sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp thành phố giai đoạn 2018 – 2020. Cụ thể, sản phẩm công nghiệp chủ lực gồm nhóm sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; nhóm sản phẩm thiết bị điện; nhóm sản phẩm từ nhựa, cao su; nhóm sản phẩm thực phẩm chế biến; nhóm sản phẩm đồ uống; nhóm sản phẩm điện tử – công nghệ thông tin; nhóm sản phẩm trang phục may sẵn. Còn sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp, gồm nhóm cây trồng (rau; hoa, cây kiểng); nhóm sản phẩm chăn nuôi (bò sữa, lợn); thuỷ sản (tôm nước lợ); nhóm sản phẩm tiềm năng (cá cảnh).

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay của Việt Nam, Giải Pháp Việt nhận thấy và đồng quan điểm rằng đây là các nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, năng lực sản xuất lớn, có thị trường tiềm năng trong nước và quốc tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung. Đồng thời, các nhóm sản phẩm đáp ứng các tiêu chí phát triển như sản phẩm có giá trị gia tăng, năng suất lao động cao; hệ thống quản lý chất lượng, sản xuất bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước…Trong thời gian tới, nhóm sản phẩm chủ lực của thành phố sẽ phát triển thành những thương hiệu mạnh mang tầm khu vực, thúc đẩy công nghiệp, nông nghiệp Thành phố vươn lên hội nhập và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ngoài ra, sự kiện này còn là cơ sở quan trọng để thành phố tập trung nguồn nhân lực chất lượng, lập kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của thành phố trong tương lai sắp tới. Trong hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố cũng nêu rõ, để hỗ trợ nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố phát triển, Thành phố sẽ chỉ đạo, tham mưu chính sách hỗ trợ các nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực, từ đó tập trung nguồn lực để hỗ trợ các nhóm sản phẩm chủ lực tiếp tục phát triển, đủ sức lan tỏa, dẫn dắt thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu. Với sự hỗ trợ của các đơn vị và các nhóm giải pháp cũng như chính sách mở cửa hội nhập, Giải Pháp Việt hy vọng nhóm ngành công, nông nghiệp chủ lực của thành phố sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển thành những thương hiệu tầm khu vực, thúc đẩy ngành công nghiệp thành phố phát triển thông qua đó có những đóng góp to lớn vào nền kinh tế chung của đất nước.

Công ty Luật Giải Pháp Việt.

Website mạo danh thương hiệu, nỗi lo của doanh nghiệp

Môi trường internet tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cho doanh nghiệp…..Luật sư tư vấn xử lý Website mạo danh thương hiệu

Với sự bùng nổ mạnh mẽ của nhu cầu sử dụng internet cùng các thiết bị truy cập mạng trong những năm gần đây đã thúc đẩy không nhỏ đến sự phát triển của doanh nghiệp. Thông qua đó sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được đưa đến gần hơn với người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì cũng tồn tại những mặt tiêu cực rất nguy hiểm, có xu hướng lan rộng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của doanh nghiệp khi tốc độ lan truyền thông tin hiện nay là rất nhanh. Bởi thói quen ngày càng có nhiều người sử dụng các trang mạng xã hội để bày tỏ những câu chuyện về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp và ngay lập tức nhận được sự đồng tình hay chia sẻ của cộng đồng, từ đó lan truyền với tốc độ nhanh chóng.

Như vậy, việc các đối tượng lập các website sử dụng tên, hình ảnh và địa chỉ của doanh nghiệp nhằm mục đích mạo danh thương hiệu làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn trong việc giao dịch, sửa chữa, bảo hành. Đối với hành vi trên, khách hàng sẽ không nhận biết được đâu là doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ chính hãng khi tìm kiếm trên môi trường internet. Trên thực tế có không ít doanh nghiệp, trung tâm điện máy lớn… trên cả nước đang phải đối mặt với vấn nạn này.

Quy định của pháp luật về xử phạt đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp

Trên thực tế, các đối tượng vi phạm sẽ tiến hành các hoạt động sửa chữa, bảo hành tại địa chỉ không phải là trung tâm bảo hành chính hãng của doanh nghiệp bằng hình thức nhận cuộc gọi và đến tận nhà để sửa chữa bảo hành lấy tiền hoặc mang hàng hóa đi sửa chữa rồi lấy tiền mà không đảm bảo được chất lượng, mức phí theo công bố của doanh nghiệp gây tâm lý bất an cho người tiêu dùng, cụ thể là những khách hàng bị nhầm lẫn. Như vậy, việc các đối tượng trên không đảm bảo được chất lượng dịch vụ đã gây thiệt hại cho người tiêu dùng cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến việc kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp. Đây chính là hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho người tiêu dùng và ảnh hưởng đến việc kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp.

Theo quy định của pháp luật thì việc giả mạo nhãn hiệu để lừa dối người tiêu dùng là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiện nay, cơ chế xử lý đối với những vi phạm này là khá đầy đủ, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, người bị xâm phạm có thể đề nghị cơ quan chức năng xem xét trách nhiệm hình sự (Điều 226 Bộ luật Hình sự quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì đối tượng vi phạm có thể bị phạt tiền hoặc 3 năm tù giam); xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 99/2013/NĐ-CP với mức xử phạt lên đến 500 triệu đồng) hoặc khởi kiện ra Tòa án, buộc người thực hiện việc xâm phạm phải bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan chức năng thu hồi, buộc trả lại hoặc cấm sử dụng đối với những tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, trên thực tế việc xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên mạng internet của các cơ quan chức năng vẫn chưa triệt để, đặc biệt trong trường hợp tên miền/nhà cung cấp dịch vụ internet đặt tại nước ngoài. Đồng thời, mức xử phạt được áp dụng chưa cao nên chưa đủ sức răn đe. Trong khi đó, chế tài hình sự ít khi được áp dụng nên đã dẫn đến tình trạng các đối tượng sẵn sàng tái phạm với mức độ tinh vi hơn, quy mô lớn hơn.

Hướng giải quyết các website mạo danh thương hiệu về lâu dài

a. Cảnh báo về các hành vi vi phạm trên trang chủ của doanh nghiệp

Trên trang chủ của doanh nghiệp đăng tin cảnh báo về việc các đối tượng dùng hình ảnh, địa chỉ để mạo danh của doanh nghiệp nhằm gây ra nhầm lẫn cho khách hàng khi tìm kiếm trên môi trường internet. Đồng thời, khẳng định những website nào mới là chính thức của doanh nghiệp. Thông qua việc cảnh báo trên nhằm cảnh báo khách hàng tránh nhầm lẫn khi tìm kiếm trên môi trường internet. Đồng thời, nếu có khiếu nại của khách hàng thì doanh nghiệp cũng có bằng chứng về việc đã cảnh báo trước về việc có nhiều đối tượng mạo danh gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp.

b. Nhờ sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền nhằm giải quyết triệt để vấn đề

Các đối tượng này không hoạt động ở một địa chỉ cố định mà bằng hình thức nhận cuộc gọi và đến tận nhà để sửa chữa bảo hành lấy tiền hoặc mang hàng hóa đi sửa chữa rồi lấy tiền, bán hàng hoá kém chất lượng. Tuy nhiên, do không đảm bảo được chất lượng và mức phí theo công bố của doanh nghiệp nên gây ra tâm lý bất an cho những khách hàng đã bị nhầm lẫn. Mặc khác, việc yêu cầu xử lý hình ảnh, địa chỉ vi phạm trên môi trường internet cũng không triệt để bởi các đối tượng này có thể lập ra nhiều website khác để tiếp tục vi phạm. Bởi vậy phương án để xử lý lâu dài là:

Bước một, mua các tên miền bao vây để trỏ về website chính của doanh nghiệp;

Bước hai, phối hợp với Công an kinh tế bắt các đối tượng vi phạm để xử lý cả hình ảnh lẫn tang vật;

Bước ba, dùng các hình ảnh, tài liệu trong quá trình Công an kinh tế bắt đối tượng đưa lên truyền thông, báo chí để răn đe nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm tương tự.

c. Thông qua việc xử lý vi phạm để truyền tải thông điệp của doanh nghiệp

Bên cạnh việc xử lý vi phạm theo hướng trên thì doanh nghiệp sẽ tập hợp các trường hợp khách hàng bị nhầm lẫn. Đối với các trường hợp khách hàng bị ảnh hưởng do nhầm lẫn thì doanh nghiệp vẫn hỗ trợ nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng. Thông qua việc này truyền tải thông điệp mặc dù khách hàng nhầm lẫn, bị lừa nhưng doanh nghiệp vẫn hỗ trợ khách hàng và tìm ra các đối tượng lừa đảo chứng tỏ “doanh nghiệp luôn chú trọng và quan tâm lợi ích khách hàng”. Như vậy, theo hướng xử lý trên không những đảm bảo được quyền lợi của doanh nghiệp mà còn xây dựng hình ảnh doanh nghiệp trong lòng khách hàng.

Thực tế trên nhắc nhở các doanh nghiệp phải cẩn trọng hơn trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ. Thường xuyên rà soát hệ thống để đưa ra các cảnh báo giúp khách hàng không bị nhầm lẫn. Về phía mình, khách hàng cũng phải thận trọng hơn khi tham gia vào bất cứ hình thức dịch vụ nào trên mạng internet. Chỉ khi nào khách hàng biết bảo vệ chính mình, doanh nghiệp tự nâng cao kỹ năng phòng thủ thì vấn nạn này mới được hạn chế và doanh nghiệp mới có thể phát triển vững mạnh được.

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Hạn chế trong phạm vi kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài

Mặc dù Luật Kinh doanh bất động sản 2014 được ban hành đã mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài so với luật kinh doanh bất động sản trước đây. Tuy nhiên, khi so sánh với phạm vi, hình thức kinh doanh bất động sản của các nhà đầu tư trong nước thì nhà đầu tư nước ngoài vẫn bị hạn chế đáng kể. Cụ thể, căn cứ theo quy định tại Điều 11 của Luật Kinh doanh bất động sản 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh bất động sản dưới những hình thức sau: Luật sư tư vấn dự án bất động sản– Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;

– Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

– Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

– Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

Do đó, các hoạt động kinh doanh quan trọng mà nhà đầu tư nước ngoài không được phép thực hiện so với nhà đầu tư trong nước là:

Thứ nhất: Mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua. Nhà đầu tư nước ngoài không được mua để bán lại, cho thuê mà chỉ có thể thuê bất động sản để tiến hành cho thuê lại;

Thứ hai: Nhà đầu tư nước ngoài không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng đó.

Từ những quy định trên có thể thấy rõ pháp luật nước ta hiện nay chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản dưới hình thức đầu tư xây dựng dự án, không phép đầu tư theo kiểu “mua đi, bán lại” như nhà đầu tư trong nước. Điều này phần nào phản ánh được chính sách của nhà làm luật đối với việc mở cửa thị trưởng bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài. Một mặt, nhà làm luật muốn thu hút nguồn vốn đầu tư ngoài nước vào để cải thiện thị trường bất động sản ảm đạm và đóng băng của những năm trước đây, đồng thời, cũng hạn chế phần nào phạm vi hoạt động của họ để tránh việc nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn lớn có thể thâu tóm thị trường.

Tuy nhiên, với nhu cầu của nền kinh tế thị trường thì việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước là cần thiết. Vì vậy, pháp luật nên được cải thiện theo hướng thông thoáng hơn với nhà đầu tư nước ngoài để thu hút nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu về nhà ở, cũng như bất động sản ở nước ta hiện nay. 

Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.