Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, về đối tượng được quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp gồm: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014), tuy nhiên Luật này cũng có quy định theo nguyên tắc loại trừ. Theo đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 18 LDN 2014.

Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, trong số các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp được liệt kê tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014, vẫn có ý kiến trái chiều xoay quanh đối tượng là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ý kiến này cho rằng, việc cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, bởi lẽ theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013: ”Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Trong khi đó, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không hẳn sẽ bị tòa án tuyên có tội; đồng thời theo nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật hình sự thì trong giai đoạn truy cứu trách nhiệm hình sự, những người này vẫn được xem là người vô tội. Vì là người vô tội nên họ cần có các quyền cơ bản như những công dân bình thường khác, bao gồm cả quyền tự do kinh doanh và quyền thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc LDN 2014 cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thành lập doanh nghiệp là chưa hợp lý và thậm chí còn mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013. Thiết nghĩ, cũng giống như quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN 2005, LDN 2014 nên đưa người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ra khỏi quy định cấm thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp, họ bị tòa án tuyên bố có tội và buộc phải thi hành hình phạt tù thì họ có thể lựa chọn thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp bằng cách chuyển nhượng, tặng, cho phần vốn góp (PVG)/ cổ phần cho người khác có đủ điều kiện theo luật định; nếu không tiến hành thayd đổi chủ sở hữu doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh có thể căn cứ vào khoản 20 Điều 1 Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 về “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 14//2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp để thu hồi Giấy CNĐKDN đối với trường hợp trên.  

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp, tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 cũng đề cập đến một loại giấy tờ mà LDN 2005 trước kia không yêu cầu người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp, đó là Phiếu lý lịch tư pháp. Theo quy định, khi có yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh (cơ quan ĐKKD), người thành lập doanh nghiệp phải nộp thêm phiếu lý lịch tư pháp kèm với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Cho tới nay, chưa có văn bản nào của cơ quan lập pháp lý giải vì sao lại yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp và trong những trường hợp cụ thể nào cơ quan ĐKKD được quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp loại giấy tờ này. Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp, chúng tôi thiết nghĩ việc LDN 2014 quy định thêm về phiếu lý lịch tư pháp là nhằm mục đích hỗ trợ cơ quan ĐKKD trong việc xác định người thành lập doanh nghiệp có rơi vào các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014 hay không. Tuy nhiên, nếu xem xét định nghĩa về phiếu lý lịch tư pháp quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 thì “Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhận chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tòa án tuyên bố phá sản”. Như vậy, phiếu lý lịch tư pháp chỉ giúp loại trừ được đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp trong trường hợp trước đó doanh nghiệp của người này bị tuyên bố phá sản theo quyết định của tòa án mà thôi; ngoài ra, các trường hợp còn lại quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN2014 thì không thể dựa vào phiếu lý lịch tư pháp để xác định được. Quan trọng hơn cả, việc LDN 2014 quy định một cách chung chung, không nêu rõ trường hợp cụ thể nào người thành lập doanh nghiệp phải nộp phiếu lý lịch tư pháp dễ dẫn đến tình trạng yêu cầu này bị áp dụng một cách tùy nghi, mà bản thân người bị yêu cầu cũng không rõ lý do vì sao. Quy định về yêu cầu phiếu lý lịch tư pháp so với LDN 2005 tuy mới nhưng suy cho cùng không mang lại hiệu quả như mong đợi, thay vào đó còn làm cho thủ tục thành lập doanh nghiệp trở nên rườm rà và thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp bị kéo dài hơn. Bởi lẽ, nếu bị yêu cầu nộp phiếu lý lịch tư pháp, thời hạn để doanh nghiệp hoàn tất thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp có thể bị kéo dài thêm 10 ngày so với thời hạn thông thường. Trong khi đó, theo chủ trương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sắp tới cần theo hướng đơn giản hóa và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp hơn nữa.

Để phù hợp với chủ trương của Bộ cũng như giảm bớt phiền hà cho doanh nghiệp, LDN 2014 nên bỏ yêu cầu về phiếu lý lịch tư pháp đối với người thành lập doanh nghiệp. Hơn nữa, thực tế trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi nhìn nhận, nếu người thành lập doanh nghiệp rơi vào các trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp còn lại của khoản 2 Điều 18 LDN 2014 thì vốn dĩ cơ quan ĐKKD cũng chỉ có thể hậu kiểm, tức phát hiện hay kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy CNĐKDN, cho nên trường hợp cấm thành lập doanh nghiệp do trước đó doanh nghiệp của người này bị tòa án tuyên bố phá sản cũng nên áp dụng tương tự như vậy./.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Luật sư tư vấn pháp lý những bất cập trong việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp

Share

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *