Ở bài viết trước, luật sư tư vấn doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã phân tích về một số bất cập ngoại trừ trong điều kiện đối với đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những ngoại trừ về điều kiện của đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp theo Khoản 3, Điều 18, Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014).

Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định các đối tượng bị cấm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp (PVG) trong doanh nghiệp. Điều khoản này không trực tiếp nói đến việc cấm thành lập doanh nghiệp, nhưng về bản chất một khi các đối tượng bị cấm góp vốn thì họ cũng sẽ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp và cấm góp thêm vốn điều lệ (VĐL) của doanh nghiệp đã được thành lập (Khoản 13 Điều 4 LDN 2014). Khoản 3 Điều 18 LDN 2014 quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm, trong đó, nhóm đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 được dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Như vậy, muốn biết rõ đối tượng nào bị cấm góp vốn theo điểm b khoản 3 Điều 18 LDN 2014 thì phải xem quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, cụ thể là khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng 2018: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ, chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước”. Điều khoản này quy định về hai nhóm đối tượng bị cấm:

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Nhóm đầu tiên là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước. Lý do bởi vì họ đều là cán bộ, công chức nhà nước nên đối tượng này còn chịu sự điều chỉnh của khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Do đó, nhóm này không chỉ bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà còn bị cấm góp vốn thành lập những doanh nghiệp khác. Nhưng nếu góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập thì nhóm này chỉ bị cấm đối với những doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề họ trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước mà thôi.

Nhóm đối tượng thứ hai là vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước bị cấm kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước. Theo khoản 16 Điều 4 LDN 2014, kinh doanh được hiểu là “việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”, theo đó nội hàm của “kinh doanh” sẽ bao gồm công đoạn “đầu tư”; mà công đoạn “đầu tư” lại bao gồm hoạt động “góp vốn” vì khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa về “đầu tư” như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Như vậy, “kinh doanh” mà khoản 4 Điều 20 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 đề cập cũng sẽ bao gồm cả hoạt động góp vốn. Hay nói cách khác vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu, của cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước nếu bị cấm kinh doanh thì cũng sẽ bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước, bao gồm cả cấm góp vốn thành lập và cấm góp thêm VDL vào những doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, không giống như người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước được quy định minh thị tại điểm b khoản 2 Điều 18 LDN 2014 – quy định về các đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp; nhóm đối tượng vợ, chồng, bố, mẹ, con của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu hay cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước tuy cũng bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp, nhưng lại không thấy nhắc đến tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014. Rõ ràng thiếu sót như thế sẽ tạo cách hiểu không thống nhất trong LDN 2014. Do đó, thiết nghĩ LDN 2014 cần bổ sung nhóm đối tượng này vào đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 LDN 2014.

Theo luật sư tư vấn doanh nghiệp – Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn doanh nghiệp về một số bất cập điều kiện về đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp (Phần 1)

 

Share

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *