Trong quá trình luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014, cơ sở chủ yếu để xác định các nhà đầu tư vi phạm nghĩa vụ góp vốn đó là dựa vào số vốn đã cam kết góp và thời hạn góp vốn đối với thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH, thành viên Công ty hợp danh; dựa vào số cổ phần đã đăng ký mua và thời hạn thanh toán đủ số cổ phần này đối với cổ đông Công ty cổ phần. Vì vậy, các chủ thể có nghĩa vụ phải góp đúng và đủ số vốn đã cam kết, thanh toán đủ và đúng hạn số cổ phần đăng ký mua. Nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như thế nào? Dưới đây là một số phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn và hậu quả pháp lý khi vi phạm.

Luật sư tu vấn nghĩa vụ góp vốn (Nguồn: Internet)

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty TNHH

Đối với Công ty TNHH 2 thành viên, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thành viên công ty phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn vào doanh nghiệp. Trong thời hạn này, họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà vẫn có thành viên chưa góp vốn theo cam kết thì họ đương nhiên không còn là thành viên của công ty, nếu thành viên chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết thì họ chỉ có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp. Phần vốn góp chưa góp của các thành viên sẽ được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên. Đây là quy định hợp lý của Luật Doanh nghiệp 2014 nhằm giải quyết hiệu quả bất cập của Luật Doanh nghiệp 2005 khi không quy định rõ thành viên đã góp một phần vốn theo cam kết có đương nhiên mất tư cách thành viên công ty hay không? Nếu mất tư cách thành viên thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ có được điều chỉnh tương ứng với phần vốn góp? Ví dụ sau đây thể hiện rõ điều đó:

Ông S. là thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Phong Sơn. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì ông S. có số vốn góp là 1 tỷ đồng, chiếm 25% vốn điều lệ của công ty. Nhưng ông S trên thực tế mới góp được 200 triệu đồng, số tiền còn lại được coi là khoản nợ của ông S đối với công ty. Công ty kinh doanh có lãi và tiến hành chia lợi nhuận. Ông S. được HĐTV công ty quyết định chia lợi nhuận trên số vốn góp đăng ký là 1 tỷ đồng. Một thành viên khác của công ty không đồng ý với quyết định trên đã khởi kiện ra tòa án vì cho rằng ông S. chỉ được chia lợi nhuận trên số vốn góp là 200 triệu.

Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định cụ thể trong trường hợp trên quyền lợi của ông S. được giải quyết như thế nào, căn cứ vào số vốn đăng ký hay số vốn thực tế góp? Với Luật Doanh nghiệp 2014 thì trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ông S. có quyền lợi tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp là 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà ông S. không góp đủ số vốn đã cam kết thì quyền lợi của ông chỉ tương ứng với số vốn đã góp là 200 triệu đồng.

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp 2014 còn ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Công ty TNHH 2 thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.

Đối với Công ty TNHH 1 thành viên, Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết. Nếu vi phạm, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể hiện sự “phá hạn trách nhiệm” với các quy định được thể hiện dưới dạng quyền đòi đền bù thiệt hại của chủ nợ. Trách nhiệm của chủ sở hữu công ty là hữu hạn trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Tuy nhiên, nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Quy định này góp phần bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, hạn chế hành vi lạm dụng tính chịu trách nhiệm hữu hạn để lừa đảo, chiếm dụng tài sản của người khác đồng thời tạo môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh.

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể chủ sở hữu, thành viên Công ty TNHH phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp khi có sự vi phạm nghĩa vụ góp vốn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ đối với Công ty TNHH 1 thành viên và 60 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo quy định đối với Công ty TNHH 2 thành viên.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Hợp danh

Đối với Công ty Hợp danh, Điều 173 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

Bên cạnh đó, thành viên góp vốn nếu không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai thì sẽ bị khai trừ ra khỏi công ty. Khi bị khai trừ khỏi công ty, tư cách thành viên góp vốn chấm dứt. Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên góp vốn thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Như vậy, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn như cam kết là căn cứ để Công ty hợp danh có thể khai trừ thành viên ra khỏi công ty. Tuy nhiên, việc khai trừ thành viên ra khỏi công ty có sự khác nhau giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Theo đó thành viên góp vốn có thể bị khai trừ khỏi công ty mà không cần phân biệt thời điểm yêu cầu góp vốn từ Công ty hợp danh trong khi đó thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty khi công ty đã có yêu cầu góp vốn lần thứ hai.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Cổ phần      

Đối với Công ty Cổ phần, Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Nếu quá thời hạn này mà vẫn có cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua thì họ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty. Trường hợp cổ đông chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì họ sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán. Khi cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác, số cổ phần chưa thanh toán này được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền chào bán.

Bên cạnh đó, luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Nếu công ty không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định này. Mặt khác, Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Đây là điểm hợp lý của Luật doanh nghiệp 2014, trong khi khoản 3 Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 chỉ quy định cổ đông sáng lập phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ thì Luật doanh nghiệp 2014 quy định phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua. Ta thấy việc thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua phản ánh khả năng tài chính của công ty, tạo dựng niềm tin đối với khách hàng. Trong quá trình kinh doanh, các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty nếu phát sinh sẽ được đảm bảo từ số cổ phần mà cổ đông đăng ký mua do đó cổ đông không thể chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần chưa góp đủ như Luật doanh nghiệp 2005.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014, khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, cổ đông phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc trong một thời hạn khác ngắn hơn thời hạn nêu trên được quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần. Trong khi đó, thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Như vậy, nếu Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết có thể chịu các rủi ro nếu như công ty phát sinh các nghĩa vụ tài chính trong thời hạn này. Ngược lại, ở Công ty TNHH 1TV, nếu chủ sở hữu không góp đủ vốn điều lệ, việc hoàn tất sớm thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ sẽ có lợi hơn cho họ. Thiết nghĩ, để hạn chế Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên cũng như tạo sự thống nhất trong các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, Luật doanh nghiệp 2014 nên quy định thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, bổ sung các quy định ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty nếu họ không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong thời hạn mà Luật doanh nghiệp 2014 cho phép.

Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 quy định các cơ sở để nhận diện hành vi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, từ đó xác định hậu quả pháp lý mà chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty phải gánh chịu nhằm ràng buộc trách nhiệm của họ đối với cam kết góp vốn, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ cũng như tạo sự an toàn, ổn định cho môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khác với Công ty TNHH và công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2014 không quy định Công ty hợp danh phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ khi có thành viên vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Thiết nghĩ, vấn đề đăng ký thay đổi vốn điều lệ ở Công ty hợp danh cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Hy vọng bài phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn của Chúng tôi sẽ mang lại những thông tin hữu ích cho quý độc giả. Mọi thắc mắc hoặc có nhu cầu tư vấn về dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ:

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

 

Share

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *