Trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014): “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ (VĐL) của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập”. Như vậy, bước đầu LDN 2014 đưa ra định nghĩa chung về “góp vốn”, sau đó chia “góp vốn” thành hai trường hợp

  • Góp vốn để thành lập doanh nghiệp
  • Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập.

Mặc dù, hai trường hợp góp vốn này không được định nghĩa chính thức trong LDN 2014, nhưng dựa vào một số quy định liên quan, luật sư tư vấn doanh nghiệp có thể phân tích như sau:

Góp vốn để thành lập doanh nghiệp: Là trường hợp cá nhân, tổ chức góp tài sản theo cam kết nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp. Cam kết này hình thành trước khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN), hay có thể hiểu theo cách khác cam kết hình thành trước khi doanh nghiệp chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý và tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức trong giai đoạn này sẽ tạo thành VĐL ban đầu để doanh nghiệp hoạt động.

Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt
Luật sư tư vấn pháp lý doanh nghiệp công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập: là trường hợp cá nhân, tổ chức tiến hành góp tài sản để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng cam kết hoặc thỏa thuận góp vốn của họ được hình thành khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, tức là sau khi doanh nghiệp được cấp Giấy CNDDKDN. Tài sản góp vốn của cá nhân, tổ chức không tạo lập nên VĐL ban đầu cho doanh nghiệp mà những tài sản này sẽ làm gia tăng VĐL sẵn có của doanh nghiệp.

Nếu chỉ giới hạn khái niệm “góp vốn” ở hai trường hợp nêu trên thì quả thực khoản 13 Điều 4 LDN 2014 liệt kê chưa đầy đủ các trường hợp góp vốn. Trên thực tế, trong quá trình luật sư tư vấn doanh nghiệp tư vấn, chúng tôi thấy rõ việc các trường hợp cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG hoàn toàn không có hành vi trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp; thậm chí PVG mà họ được thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ, nhận chuyển nhượng cũng không nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp hay làm tăng thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập. Có nghĩa, việc sở hữu PVG cả cá nhân, tổ chức này không thuộc hai trường hợp góp vốn được liệt kê tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014. Thế nhưng, điều này không thể phủ nhận việc họ góp vốn vào doanh nghiệp . Tại sao chúng tôi lại ghi nhận như thế? Vì khi xét đến định nghĩa chung về góp vốn tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014 thì cá nhân, tổ chức được nhận thừa kế, tặng cho, nhận trả nợ và nhận chuyển nhượng PVG vẫn sở hữu PVG tạo thành VĐL của doanh nghiệp, họ vẫn được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Do vậy, về bản chất, những đối tượng này vẫn có hành vi góp vốn một cách “gián tiếp” cho dù không thực hiện hai hành vi góp vốn quy định tại khoản 13 Điều 4 LDN 2014.

Từ những điểm bất cập nêu trên, luật sư tư vấn doanh nghiệp thiết nghĩ khoản 13 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về “góp vốn” theo cách thức liệt kê là chưa thực sự hợp lý. Khoản 13 Điều 4 LDN 2014 nên lược bỏ quy định liệt kê hai hành vi góp vốn là: (1) Góp vốn để thành lập doanh nghiệp và (2) Góp thêm VĐL của doanh nghiệp đã thành lập; thay vào chỉ nên giữ lại phần định nghĩa chung về “góp vốn”. Với cách quy định khái quát, nêu rõ bản chất của “góp vốn” là gì, sẽ giúp quy định của LDN 2014 ổn định hơn và bao quát tất cả các trường hợp góp vốn hiện còn bỏ sót, kể cả những trường hợp góp vốn có thể sẽ phát sinh dưới những hình thái khác trong tương lai./.

Share

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *