Luật sư tư vấn cách đóng dấu văn bản chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Từ ngày 05/3/2020, cách đóng dấu văn bản hành chính sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định 30/2020/NĐ-CP. Trong bài viết này, Luật sư tư vấn chia sẻ nội dung liên quan đến quy định về đóng dấu trong văn bản hành chính.

Luật sư tư vấn cách đóng dấu văn bản chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Đối với văn bản giấy: Dù là dấu chữ ký, dấu treo hay dấu giáp lai thì khi đóng dấu cũng phải đáp ứng yêu cầu sau:

– Đóng phải rõ ràng, ngay ngắn;

– Đóng đúng chiều;

– Dùng đúng mực dấu màu đỏ theo quy định.

Dấu chữ ký

Khi đóng dấu lên chữ ký, dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.

Dấu treo

Dấu treo thường được đóng trên các văn bản ban hành kèm theo văn bản chính hoặc phụ lục.

Dấu được đóng lên trang đầu, trùm một phần tên cơ quan, tổ chức hoặc tiêu đề phụ lục.

Dấu giáp lai

– Dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy;

– Mỗi dấu đóng tối đa 05 tờ văn bản.

Ngoài ra, việc đóng dấu treo, dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản giấy do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định.

Đối với văn bản điện tử

– Dấu của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử (chữ ký số của cơ quan, tổ chức) là hình ảnh dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trên văn bản, màu đỏ, kích thước bằng kích thước thực tế của dấu, định dạng (.png) nền trong suốt, trùm lên khoảng 1/3 hình ảnh chữ ký số của người có thẩm quyền về bên trái.

– Dấu trên văn bản kèm theo văn bản chính được thể hiện như sau:

+ Văn bản kèm theo cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, chỉ thực hiện ký số văn bản và không thực hiện ký số lên văn bản kèm theo;

+ Văn bản không cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, phải ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo (nhưng không hiển thị hình ảnh) tại góc trên, bên phải, trang đầu của văn bản kèm theo.

Ngoài ra, thể thức và cách trình bày văn bản cũng được áp dụng theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP từ 05/3/2020 với nhiều điểm mới.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan: 

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính chuẩn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP

Theo Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính sẽ được thực hiện theo quy định tại Nghị định 30/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/3/2020. Trong bài viết này, Luật sư tư vấn chia sẻ nội dung liên quan đến quy định về ký tên văn bản hành chính.

Thẩm quyền ký ban hành văn bản: Tùy thuộc vào mô hình hoạt động của cơ quan, tổ chức và tình hình thực tế mà thẩm quyền ký văn bản có khác nhau.

Luật sư tư vấn cách ký tên văn bản hành chính

Đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng:

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành.

– Có thể giao cấp phó ký thay các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu.

Đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ tập thể:

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thay mặt tập thể lãnh đạo ký các văn bản của cơ quan, tổ chức.

– Cấp phó của người đứng đầu được thay mặt tập thể, ký thay người đứng đầu những văn bản theo ủy quyền của người đứng đầu và những văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách…

Cách ghi quyền hạn của người ký:

– Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM.” vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức.

– Tương tự, trường hợp được giao quyền cấp trưởng thì phải ghi chữ viết tắt “Q.” vào trước; ký thay người đứng đầu ghi chữ viết tắt “KT.” vào trước

– Trường hợp cấp phó được giao phụ trách hoặc điều hành thì thực hiện ký như cấp phó ký thay cấp trưởng.

– Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” Vào trước; ký thừa ủy quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

 Cách ghi chức vụ, chức danh và họ tên của người ký

– Chức vụ ghi trên văn bản là chức vụ lãnh đạo chính thức của người ký; không ghi những chức mà Nhà nước không quy định.

– Chức danh ghi trên văn bản do các tổ chức tư vấn ban hành là chức danh lãnh đạo của người ký văn bản trong tổ chức tư vấn;

– Họ và tên người ký văn bản bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản. Trước họ tên của người ký, không ghi học hàm, học vụ và các danh hiệu danh dự khác;

– Việc ghi thêm quân hàm, học hàm, học vị trước họ tên người ký đối với văn bản của các đơn vị vũ trang nhân dân, các tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học do người đứng đầu cơ quản quản lý ngành, lĩnh vực quy định.

Chữ ký tên văn bản giấy: Khi ký tên trên văn bản giấy phải dùng bút có mực màu xanh, không dùng các loại mực dễ phai.

Chữ ký trên văn bản điện tử

– Đối với văn bản điện tử, người có thẩm quyền thực hiện chữ ký số.

– Hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dang Portable Network Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn vào doanh nghiệp và hậu quả pháp lý khi vi phạm

Trong quá trình luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật Doanh nghiệp 2014, cơ sở chủ yếu để xác định các nhà đầu tư vi phạm nghĩa vụ góp vốn đó là dựa vào số vốn đã cam kết góp và thời hạn góp vốn đối với thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH, thành viên Công ty hợp danh; dựa vào số cổ phần đã đăng ký mua và thời hạn thanh toán đủ số cổ phần này đối với cổ đông Công ty cổ phần. Vì vậy, các chủ thể có nghĩa vụ phải góp đúng và đủ số vốn đã cam kết, thanh toán đủ và đúng hạn số cổ phần đăng ký mua. Nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như thế nào? Dưới đây là một số phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn và hậu quả pháp lý khi vi phạm.

Luật sư tu vấn nghĩa vụ góp vốn (Nguồn: Internet)

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty TNHH

Đối với Công ty TNHH 2 thành viên, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thành viên công ty phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn vào doanh nghiệp. Trong thời hạn này, họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà vẫn có thành viên chưa góp vốn theo cam kết thì họ đương nhiên không còn là thành viên của công ty, nếu thành viên chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết thì họ chỉ có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp. Phần vốn góp chưa góp của các thành viên sẽ được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên. Đây là quy định hợp lý của Luật Doanh nghiệp 2014 nhằm giải quyết hiệu quả bất cập của Luật Doanh nghiệp 2005 khi không quy định rõ thành viên đã góp một phần vốn theo cam kết có đương nhiên mất tư cách thành viên công ty hay không? Nếu mất tư cách thành viên thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ có được điều chỉnh tương ứng với phần vốn góp? Ví dụ sau đây thể hiện rõ điều đó:

Ông S. là thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Phong Sơn. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì ông S. có số vốn góp là 1 tỷ đồng, chiếm 25% vốn điều lệ của công ty. Nhưng ông S trên thực tế mới góp được 200 triệu đồng, số tiền còn lại được coi là khoản nợ của ông S đối với công ty. Công ty kinh doanh có lãi và tiến hành chia lợi nhuận. Ông S. được HĐTV công ty quyết định chia lợi nhuận trên số vốn góp đăng ký là 1 tỷ đồng. Một thành viên khác của công ty không đồng ý với quyết định trên đã khởi kiện ra tòa án vì cho rằng ông S. chỉ được chia lợi nhuận trên số vốn góp là 200 triệu.

Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định cụ thể trong trường hợp trên quyền lợi của ông S. được giải quyết như thế nào, căn cứ vào số vốn đăng ký hay số vốn thực tế góp? Với Luật Doanh nghiệp 2014 thì trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ông S. có quyền lợi tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp là 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, quá thời hạn nêu trên mà ông S. không góp đủ số vốn đã cam kết thì quyền lợi của ông chỉ tương ứng với số vốn đã góp là 200 triệu đồng.

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp 2014 còn ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Công ty TNHH 2 thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.

Đối với Công ty TNHH 1 thành viên, Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết. Nếu vi phạm, họ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể hiện sự “phá hạn trách nhiệm” với các quy định được thể hiện dưới dạng quyền đòi đền bù thiệt hại của chủ nợ. Trách nhiệm của chủ sở hữu công ty là hữu hạn trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Tuy nhiên, nếu vi phạm nghĩa vụ góp vốn, chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ. Quy định này góp phần bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, hạn chế hành vi lạm dụng tính chịu trách nhiệm hữu hạn để lừa đảo, chiếm dụng tài sản của người khác đồng thời tạo môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh.

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cụ thể chủ sở hữu, thành viên Công ty TNHH phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp khi có sự vi phạm nghĩa vụ góp vốn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ đối với Công ty TNHH 1 thành viên và 60 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo quy định đối với Công ty TNHH 2 thành viên.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Hợp danh

Đối với Công ty Hợp danh, Điều 173 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

Bên cạnh đó, thành viên góp vốn nếu không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai thì sẽ bị khai trừ ra khỏi công ty. Khi bị khai trừ khỏi công ty, tư cách thành viên góp vốn chấm dứt. Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên góp vốn thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Như vậy, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn như cam kết là căn cứ để Công ty hợp danh có thể khai trừ thành viên ra khỏi công ty. Tuy nhiên, việc khai trừ thành viên ra khỏi công ty có sự khác nhau giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Theo đó thành viên góp vốn có thể bị khai trừ khỏi công ty mà không cần phân biệt thời điểm yêu cầu góp vốn từ Công ty hợp danh trong khi đó thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty khi công ty đã có yêu cầu góp vốn lần thứ hai.

Luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn đối với Công ty Cổ phần      

Đối với Công ty Cổ phần, Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014 quy định trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Nếu quá thời hạn này mà vẫn có cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua thì họ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty. Trường hợp cổ đông chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì họ sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán. Khi cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn, họ không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác, số cổ phần chưa thanh toán này được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền chào bán.

Bên cạnh đó, luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn theo Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Nếu công ty không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định này. Mặt khác, Luật doanh nghiệp 2014 còn quy định cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014. Đây là điểm hợp lý của Luật doanh nghiệp 2014, trong khi khoản 3 Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 chỉ quy định cổ đông sáng lập phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần chưa góp đủ thì Luật doanh nghiệp 2014 quy định phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua. Ta thấy việc thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua phản ánh khả năng tài chính của công ty, tạo dựng niềm tin đối với khách hàng. Trong quá trình kinh doanh, các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty nếu phát sinh sẽ được đảm bảo từ số cổ phần mà cổ đông đăng ký mua do đó cổ đông không thể chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần chưa góp đủ như Luật doanh nghiệp 2005.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Luật doanh nghiệp 2014, khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, cổ đông phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc trong một thời hạn khác ngắn hơn thời hạn nêu trên được quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần. Trong khi đó, thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Như vậy, nếu Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ thì thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết có thể chịu các rủi ro nếu như công ty phát sinh các nghĩa vụ tài chính trong thời hạn này. Ngược lại, ở Công ty TNHH 1TV, nếu chủ sở hữu không góp đủ vốn điều lệ, việc hoàn tất sớm thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ sẽ có lợi hơn cho họ. Thiết nghĩ, để hạn chế Công ty TNHH 2TV cố tình trì hoãn việc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên cũng như tạo sự thống nhất trong các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, Luật doanh nghiệp 2014 nên quy định thành viên, chủ sở hữu Công ty TNHH phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đồng thời, bổ sung các quy định ràng buộc trách nhiệm đối với thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty nếu họ không đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong thời hạn mà Luật doanh nghiệp 2014 cho phép.

Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 quy định các cơ sở để nhận diện hành vi vi phạm nghĩa vụ góp vốn, từ đó xác định hậu quả pháp lý mà chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty phải gánh chịu nhằm ràng buộc trách nhiệm của họ đối với cam kết góp vốn, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ cũng như tạo sự an toàn, ổn định cho môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khác với Công ty TNHH và công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2014 không quy định Công ty hợp danh phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ khi có thành viên vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Thiết nghĩ, vấn đề đăng ký thay đổi vốn điều lệ ở Công ty hợp danh cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Hy vọng bài phân tích của luật sư tư vấn nghĩa vụ góp vốn của Chúng tôi sẽ mang lại những thông tin hữu ích cho quý độc giả. Mọi thắc mắc hoặc có nhu cầu tư vấn về dịch vụ pháp lý vui lòng liên hệ:

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu áp dụng đối với người có thu nhập cao.Theo luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân được pháp luật quy định như thế nào? Dưới đây là 16 trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân.  

Luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân

Theo Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP được hướng dẫn chi tiết bởi Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 12 và bổ sung bởi khoản 4, 5 Điều 12 Thông tư 92/2015/TT-BTC), các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm:

  1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
  2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
  3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
  5. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp để hợp lý hóa sản xuất nông nghiệp nhưng không làm thay đổi mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Nhà nước giao để sản xuất.
  6. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất theo hướng dẫn tại điểm này phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

– Có quyền sử dụng đất, quyền thuê đất, quyền sử dụng mặt nước, quyền thuê mặt nước hợp pháp để sản xuất và trực tiếp tham gia lao động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản.

– Thực tế cư trú tại địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.

Địa phương nơi diễn ra hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng thủy sản theo hướng dẫn này là quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là đơn vị hành chính cấp huyện) hoặc huyện giáp ranh với nơi diễn ra hoạt động sản xuất.

Riêng đối với hoạt động đánh bắt thủy sản thì không phụ thuộc nơi cư trú.

– Các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng đánh bắt thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới chỉ sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh và các hình thức bảo quản thông thường khác.

  1. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
  2. Thu nhập từ kiều hối được miễn thuế là khoản tiền cá nhân nhận được từ nước ngoài do thân nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam đi lao động, công tác, học tập tại nước ngoài gửi tiền về cho thân nhân ở trong nước;

Trường hợp cá nhân nhận được tiền từ nước ngoài do thân nhân là người nước ngoài gửi về đáp ứng điều kiện về khuyến khích chuyển tiền về nước theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam thì cũng được miễn thuế.

Căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế tại điểm này là các giấy tờ chứng minh nguồn tiền nhận từ nước ngoài và chứng từ chi tiền của tổ chức trả hộ (nếu có).

  1. Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động, cụ thể như sau:

– Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

– Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.

  1. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện.
  2. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

– Học bổng nhận được từ ngân sách Nhà nước bao gồm: học bổng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường công lập hoặc các loại học bổng khác có nguồn từ ngân sách Nhà nước.

– Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước (bao gồm cả khoản tiền sinh hoạt phí) theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.

  1. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
  2. Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận.

Quỹ từ thiện nêu tại điểm này là quỹ từ thiện được thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định 30/2012/NĐ-CP (từ ngày 15/01/2020 được thay thế bởi Nghị định 93/2019/NĐ-CP).

Căn cứ xác định thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được miễn thuế tại điểm này là văn bản hoặc quyết định trao khoản thu nhập của quỹ từ thiện và chứng từ chi tiền, hiện vật từ quỹ từ thiện.

  1. Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Căn cứ xác định thu nhập được miễn thuế tại điểm này là văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt việc nhận viện trợ.

  1. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam nhận được do làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.
  2. Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu có được từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác thủy sản xa bờ.

Trên đây là phần luật sư tư vấn các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân của công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt. Quý khách hàng chưa rõ, cần hỗ trợ vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chuyện cũ nhưng không cũ

Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm, trước nay có những vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm kéo dài đến hàng năm trời nhưng không xử lý hình sự được người vi phạm. Cuối cùng cơ quan chức năng phải xử phạt hành chính. Ví dụ như có vụ phát hiện hơn 20 tấn thịt vi phạm nhưng chỉ xử phạt mấy trăm triệu. Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm thống kê số vụ việc vi phạm có thể chuyển qua để xử lý hình sự rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính vì thế mức răn đe đối với các đối tượng khác cũng chưa đủ mạnh. Hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm của đa số người dân hiện nay, đặc biệt trong dịp Tết nguyên đán cận kề. Cho đến hiện nay, các vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được các cơ quan chức năng vào cuộc mạnh mẽ và xử lý nghiêm.

Luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm (Ảnh minh họa)

Liên quan đến vấn đề này, luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm nêu rõ: vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng đã được quy định tại điều 317 Bộ luật hình sự và Luật an toàn thực phẩm. Thông thường, nếu hành vi vi phạm chưa đủ cấu thành tội phạm tại điều 317 thì sẽ phải xử lý theo Luật an toàn thực phẩm và Nghị định hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính.

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã đặt ra các chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm chặt chẽ và khả thi hơn. Điều 317 về tội “Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm” quy định: Người nào thực hiện một trong các hành vi như sử dụng chất cấm trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm có sử dụng chất cấm; hoặc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật bị cấm, nằm ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối tạo ra dư lượng vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm; hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội danh này là 20 năm tù). Như vậy, mọi tổ chức, cá nhân chỉ cần có hành vi sản xuất, buôn bán thực phẩm thối, tẩm hóa chất độc hại như quy định nêu trên sẽ bị xử lý hình sự, mà không cần có hậu quả xảy ra như chết người hay gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng. Điều này sẽ giúp cơ quan chức năng có biện pháp mạnh tay hơn trong việc xử lý hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, có hại cho người tiêu dùng trong thời gian tới. Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

Vậy trước thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định xử lý như trên có răn đe, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm?

Muốn áp dụng pháp luật để xử lý loại tội phạm này không dễ. Ngay cả xử phạt hành chính mà lập biên bản xử lý không đúng cũng bị kiện ngay. Bộ luật hình sự có nêu rõ điều kiện vi phạm nhưng thực tế khi chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra thì hầu hết đều bị kết luận chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không chứng minh được thiệt hại của nạn nhân. 

Thực trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm đã và luôn là điều chúng ta quan ngại, khi về số lượng và mức độ các vụ việc càng ngày càng đáng báo động. Theo quan điểm của luật sư tư vấn, việc xử lý hình sự đúng người đúng tội những cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ có tính răn đe tốt hơn. Những vi phạm về an toàn thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và tính mạng người dân. Chưa kể những chất độc hại tích tụ sẽ di hại về sau mà không ai định lượng được. Trong khi, từ trước tới nay đa số các vụ việc chỉ mới dừng lại ở mức xử phạt hành chính. Để hạn chế các hành vi an toàn thực phẩm cần nhiều yếu tố tác động, và việc quy định xử lý hình sự do đó có thể coi là một trong những yếu tố thúc đẩy.

Bên cạnh đó, trách nhiệm doanh nghiệp, nhà sản xuất, người kinh doanh khi đưa sản phẩm, hàng hóa ra thị trường cần phải thực hiện gì?

Điều đầu tiên, các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm cần nâng cao tính tự chủ, chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc áp dụng các mô hình sản xuất tiên tiến như GMP, VietGap, HACCP, ISO… nhằm tạo nguồn cung bảo đảm an toàn thực phẩm.

Bên cạnh đó, các sản phẩm an toàn phải được kiểm soát tốt từ sản xuất đến lưu thông, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, không tồn dư hóa chất cấm sử dụng, hóa chất ngoài danh mục được phép sử dụng. Trong trường hợp, nếu xảy ra vấn đề doanh nghiệp cần có trách nhiệm cung cấp thông tin, cung cấp bằng chứng giao dịch, bảo vệ thông tin, trách nhiệm bên thứ ba, bồi thường thiệt hại, giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng.

Những yếu tố trên góp phần tạo tạo uy tín cho người tiêu dùng là điều cần thiết, song hành cùng với việc tìm kiếm lợi nhuận kinh doanh. Sự uy tín không chỉ đến từ chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm mà còn những biện pháp góp phần ngăn chặn hành vi vi phạm an toàn thực phẩm. Bởi hiện nay, đa số các sản phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm đến từ các sản phẩm nhập lậu, làm giả, nhái từ các thương hiệu sản phẩm uy tín. Do đó, chúng tôi cho rằng việc hỗ trợ người tiêu dùng nhận diện thương hiệu chính thức cũng là điều các doanh nghiệp, nhà sản xuất đáng lưu tâm.

Theo luật sư tư vấn về an toàn thực phẩm, trong thời điểm cận tết như thế, người tiêu dùng khi mua hàng hóa – sản phẩm cần phải lưu ý những điều gì?

Tình trạng thực phẩm thiếu an toàn, không rõ nguồn gốc xuất xứ được bày bán tràn lan trên thị trường thời điểm cận Tết khiến cho người dân không khỏi hoang mang. Bên cạnh đó, Chúng ta nhận thấy rằng giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất vào mỗi dịp mua sắm Tết vì hai lý do cơ bản là các sản phẩm đều tăng giá và nhu cầu mua sắm tăng cao, nên việc tiết kiệm chi phí là điều cần thiết. Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng không nên chủ quan và bỏ qua tiêu chí về chất lượng sản phẩm, đặc biệt với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số lưu ý cho chúng ta trong dịp mua sắm thời điểm cận Tết như sau:

Thứ nhất là thận trọng khi kiểm tra xuất xứ sản phẩm: Có rất nhiều mặt hàng kém chất lượng vào dịp Tết, vì vậy cần nên xem xét kĩ nhãn mác, bao bì trước khi mua. Tốt nhất nên mua ở những cửa hàng có uy tín, siêu thị hoặc những đại lý chính hãng để tránh được tình trạng mua phải hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Thứ hai, luôn cẩn thận kiểm tra hạn sử dụng của từng sản phẩm.

Thứ ba, khi phát hiện ra các hành vi an toàn thực phẩm cần báo cho cơ quan chức năng để kịp thời có biện pháp ngăn chặn, tránh để việc hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng, mất an toàn thực phẩm trôi nổi trên thị trường./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

 

Những yếu tố giúp bạn trở thành luật sư giỏi

Hiện nay, việc cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm phạm thuê Luật sư để bảo vệ không còn là một chuyện xa lạ với xã hội nữa. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng trong tiến trình xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Để trở thành một luật sư giỏi, ngoài những kiến thức pháp lý (luật nội dung- luật hình thức), người Luật sư còn cần phải có những kỹ năng nghề nghiệp vững chắc.

Thứ nhất, đạo đức nghề nghiệp: Là một luật sư nói riêng và người làm trong lĩnh vực pháp luật nói chung thì nhất thiết bạn phải có đạo đức – chính trị tốt, luôn trung thành với sự thật. Người ta vẫn ví những người làm trong lĩnh vực tư pháp là những người có thể đổi trắng thay đen, biến một người có tội nặng thành tội nhẹ, tội nhẹ thành vô tội và ngược lại. Cũng có câu ví luật sư như những con rắn có cái lưỡi không xương uốnéo sẵn sàng dối trá. Câu nói này xuất phát từ hiện tượng có không ít người đã vì lợi ích cá nhân mà dám bóp méo sự thật. Những người như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị pháp luật trừng trị. Nghề nào cũng cần phải có đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên nghề luật là nghề cần thiết hơn cả. Sự trung thực với sự thật, trung thành với luật pháp của những người luật sư sẽ góp phần làm cho xã hội trong sạch hơn.

Thứ hai, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, giải quyết vấn đề: Người ta vẫn thường hay gọi luật sư là các “thầy cãi” cũng bởi nghề luật là nghề nói, nghề cãi. Vì vậy kỹ năng giao tiếp cũng như kỹ năng thuyết phục, diễn giải vấn đề một cách khúc chiết luôn là những kỹ năng quan trọng nhất. Hãy thử tưởng tượng xem, trong một phiên tòa mà vị luật sư cứ nói ấp a ấp úng, diễn đạt lủng củng, không rành mạch… thì liệu thân chủ của anh ta có bao nhiêu phần trăm thắng cuộc? Để có được những kỹ năng này và phấn đấu trở thành một luật sư giỏi, bạn cần phải chịu khó rèn luyện ngay từ bây giờ. Hãy tập nói một mình trước gương hay cùng một vài người bạn tập hợp lại để tranh luận về một vấn đề cùng quan tâm. Bạn cũng có thể tham gia các khóa học về kỹ năng giao tiếp, thuyết trình. Một điều nữa là trước khi diễn thuyết, bạn nên tìm hiểu thật kỹ vấn đề mình sẽ nói, lên dàn bài cho nội dung mình sẽ nói…

Những yếu tố để trở thành Luật sư giỏi

Thứ ba, tư duy phân tích, tổng hợp, phán đoán, và tư duy logic: Nếu muốn trở thành một luật sư giỏi, bạn cần phải phân tích được các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó xâu chuỗi tất cả những hành vi này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, đâu là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được. Sự hiểu biết về tâm lý con người nói chung và tâm lý tội phạm nói riêng cũng sẽ giúp cho những luật sư dễ dàng tìm ra nguyên nhân của những hành vi phạm tội.

Cuối cùng đó chính là ngoại ngữ: Bên cạnh những điều kiện, kỹ năng trên, bạn cũng cần phải có trình độ ngoại ngữ tốt để có thể làm việc tốt trong thời đại hội nhập ngày nay. Là một luật sư giỏi, bạn hoàn toàn có thể tham gia vào các vụ kiện tụng mang tính chất quốc tế hay các vụ kiện tụng có sự tham gia của người nước ngoài ở Việt Nam. Những vụ như vậy sẽ đem lại cho bạn rất nhiều kinh nghiệm cũng như một khoản thù lao không nhỏ đó. Đừng để rào cản ngôn ngữ mà hạn chế khả năng, cơ hội của mình.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt./.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Ở những bài viết trước, luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt đã chia sẻ các hình thức đấu thầu. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác và khách hàng phương thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013.

Theo Luật đấu thầu 2013, từ Điều 28 đến Điều 31 thì có 4 phương thức đấu thầu:

– Đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ;

– Đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ.

Xuất phát từ quy mô, tính chất phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của các gói thầu sử dụng vốn nhà nước mà Luật đấu thầu đã quy định cụ thể 4 phương thức đấu thầu khác nhau. Mục đích chính là để đáp ứng tốt nhất khả năng thực hiện và bảo đảm chất lượng của gói thầu. Đồng nghĩa, các gói thầu có sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ về phương thức đấu thầu theo Luật đấu thầu.

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán ) trong cùng một túi hồ sơ dự thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần (mở cùng lúc cả đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ).

Đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ: Bên dự thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá. Các nhà thầu đạt điểm kỹ thuật theo yêu cầu sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất tài chính để đánh giá. Nếu nhà thầu nào đạt cả hai yêu cầu về kỹ thuật và tài chính thì sẽ trở thành người trúng thầu. Tuy nhiên, đối với phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức đấu thầu một giai đoạn hai túi hồ sơ chỉ áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn nhà nước nhỏ, đơn giản và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 28, 29 Luật đấu thầu 2013.

Các phương thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu từ Điều 28 đến Điều 31 được quy định khắt khe theo độ phức tạp và quy mô sử dụng vốn của dự án. Nếu như phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ và phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng đối với các dự án đơn giản, quy mô vốn nhỏ thì phương thức đấu thầu hai giai đoạn lại được áp dụng đối với các gói thầu có quy mô sử dụng vốn lớn và có tính phức tạp cao hơn. Phương thức này chỉ được quy định trong Luật đấu thầu bởi lẽ các phương thức đấu thầu được quy định đối với các dự án quy mô lớn, phức tạp, mang tính chất công thì việc bảo đảm tiến độ công trình, chất lượng của dự án là vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của cả một đất nước. Vì vậy cần phải có một phương thức đấu thầu chặt chẽ để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất, với giá cả hợp lý nhất. 

Theo quy định tại Điều 30 Luật đấu thầu thì phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Xuất phát từ thực tế có rất nhiều nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của gói thầu nhưng do giá dự thầu thấp nên đã trúng thầu. Đến khi thực hiện dự án thì không bảo đảm về mặt chất lượng cũng như tiến độ thi công của gói thầu.

Bài học thực tế từ các nhà thầu Trung Quốc thời gian qua là một ví dụ điển hình. Bằng “chiêu trò” đưa ra giá thấp nhất để được trúng thầu nhưng khi trúng thầu thì họ lại chây lì, không chịu thực hiện dự án với lý do giá thấp, không đủ để thực hiện, buộc bên mời thầu (bên mua) phải tăng giá gói thầu lên thì mới chịu thực hiện. Kết quả giá của gói thầu đã bị đẩy lên cao gấp nhiều so với thực tế. Chính vì vậy, quy định này một phần loại trừ những nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật trước khi xem xét tới giá của gói thầu. Bảo đảm lựa chọn được nhà thầu tốt nhất để thực hiện các công trình sử dụng vốn nhà nước một cách hiệu quả.

Luật sư tư vấn phương thức đấu thầu

Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật. Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Như vậy, đối với các dự án đòi hỏi công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù thì sẽ áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn hai túi hồ sơ. Trong phương thức đấu thầu này thì các yêu cầu về kỹ thuật là yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến việc trúng thầu của các bên dự thầu bởi cái bên mời thầu quan tâm nhất chính là kỹ thuật công nghệ chứ không phải giá của gói thầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chỉ có một hoặc một số nhà thầu mới đủ điều kiện thực hiện được gói thầu đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao như vậy thì rất dễ dẫn đến nhà thầu đòi giá gói thầu cao hơn nhiều lần so với giá thực tế. Đây cũng chính là hạn chế của phương thức đấu thầu này bên cạnh những ưu điểm mà nó mang lại. 

Trong suốt quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi đã học hỏi và trau dồi được những kiến thức chuyên môn, kỹ năng và hiểu rõ hơn về phương thức đấu thầu. Hy vọng những chia sẻ của luật sư tư vấn sẽ mang đến thông tin hữu ích cho quý đọc giả./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013

Theo luật sư tư vấn công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt, nhìn một cách tổng quát, Luật đấu thầu năm 2013 quy định các hình thức đấu thầu nhiều hơn các Luật khác. Nguyên nhân chính là do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu. Luật đấu thầu 2013 quy định các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp nhu cầu thực tế hiện nay.

Ở bài viết trước, luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu thông qua việc đấu thầu rộng rãi và hạn chế. Ngoài hai hình thức trên, Luật đấu thầu còn quy định thêm các hình thức đấu thầu khác. Vậy các hình thức đấu thầu đó là gì? Bài viết dưới đây, luật sư tư vấn sẽ cung cấp thông tin đến quý bạn đọc về các hình thức đấu thầu còn lại theo Luật đấu thầu 2013.

Các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013

Chỉ định thầu; Chào hàng cạnh tranh; Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng là các hình thức đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu mà không được quy định trong Luật thương mại 2005. Mục đích là để đáp ứng các nhu cầu thực tế về đấu thầu đối với các gói thầu phức tạp, mang tính cấp thiết và nhân đạo…Trong đó chỉ định thầu là một hình thức đấu thầu đặc biệt. 

Theo quan điểm của luật sư tư vấn, quy định tại Khoản 4 Điều 22 Luật đấu thầu thì chỉ định thầu đối với nhà đầu tư được áp dụng trong các trường hợp sau:

– Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện;

– Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn;

– Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, bằng hình thức chỉ định thầu, bên mời thầu không phải tổ chức đấu thầu, tiết kiệm được chi phí tổ chức và thời gian. Qua đó, bên mời thầu đẩy nhanh được tiến độ gói thầu, bảo đảm được bí mật công nghệ và đáp ứng tính cấp bách của dự án đầu tư cần triển khai.

Tuy nhiên, các gói thầu được áp dụng chỉ định thầu phải thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật đấu thầu 2013. Việc thực hiện chỉ định thầu đối với gói thầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 22 của Luật này. Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Theo đó các gói thầu này phải nằm trong hạn mức do Chính phủ quy định như: “Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công. Không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên” (Điều 54 NĐ 63/2014/CP ). 

Vậy thì, các hình thức đấu thầu còn lại như: Chào hàng cạnh tranh, Mua sắm trực tiếp; Tự thực hiện; Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt; Tham gia thực hiện của cộng đồng trong Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Về hình thức đấu thầu chào hàng cạnh tranh: Đây là hình thức đấu thầu áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật đấu thầu và Điều 57 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh chỉ đáp ứng đối với các gói thầu có giá trị trong hạn mức mà pháp luật quy định và thuộc trong những trường hợp nhất định được xác định như sau:

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình thông thường thì được áp dụng đối với các gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng sẵn có trên thị trường (có đặc tính kỹ thuật đã được tiêu chuẩn hóa, và tương đương nhau về chất lượng); hoặc gói thầu xây lắp công trình đơn giản (đã có bản vẽ thi công được phê duyệt) mà giá trị gói thầu không quá 05 tỷ đồng.

Trường hợp sử dụng hình thức chào hàng cạnh tranh với quy trình rút gọn thì bên mời thầu chỉ có thể sử dụng hình thức này để áp dụng đối với: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản mà có giá trị không quá 500 triệu đồng; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa, tương đương chất lượng và gói thầu xây lắp đơn giản đã có thiết kế được phê duyệt có giá trị không quá 01 tỷ đồng; Gói thầu đối với mua sắm thường xuyên có giá trị không quá 200 triệu đồng.

Về hình thức đấu thầu mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác. Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi có đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 2 Điều 24 Luật đấu thầu:

Nhà thầu được lựa chọn thông qua hình thức mua sắm trực tiếp phải là nhà thầu đã trúng thầu gói thầu tương tự trước đó thông qua đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế. Nhà thầu đã thực hiện việc ký kết hợp đồng để thực hiện gói thầu. So với gói thầu đã được ký kết trước đó thì gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp phải là gói thầu có tính chất, nội dung tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu tương tự đã đấu thầu rộng rãi trước đó.

Bên cạnh đó, đơn giá của phần việc trong gói thầu áp dụng thực hiện mua sắm trực tiếp không được phép vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc vào gói thầu đã được thực hiện ký kết trước đó. Thời gian áp dụng cho gói thầu mua sắm trực tiếp không được quá 12 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp.

Tuy nhiên, nhà thầu đã thực hiện hợp đồng trước đó, nếu không có khả năng thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì mua sắm trực tiếp sẽ được áp dụng đối với nhà thầu khác nếu nhà thầu đó đủ điều kiện theo quy định về năng lực nhà thầu, kinh nghiệm, cũng như kỹ thuật và giá nêu trong hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu.

Về hình thức đấu thầu tự thực hiện là hình thức đấu thầu được quy định tại Điều 25 của Luật đấu thầu. Trong đó, luật sư tư vấn cho bạn đọc có thể hiểu việc tự thực hiện là hình thức đấu thầu đặc biệt trong đó bên mời thầu, bên dự thầu và người trúng thầu đều là cùng một người. Quy định này có nghĩa là chủ dự án đầu tư tự thực hiện gói thầu của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định như vậy thì sẽ dẫn đến nhiều trường hợp, chủ đầu tư thực hiện dự án là người không có đủ khả năng đáp ứng về mặt kĩ thuật cũng như chuyên môn.

Theo luật sư tư vấn, nếu như họ tự thực hiện thì rất dễ dẫn đến không bảo đảm chất lượng của công trình, dự án, gây thất thoát tiền của nhà nước. Do vậy theo quy định tại Điều 61 Nghị định 63/2014/CP thì việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu và phải đáp ứng các điều kiện: Có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phù hợp với yêu cầu của gói thầu; Phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thực hiện về khả năng huy động nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện gói thầu; Đơn vị được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khối lượng công việc với tổng số tiền từ 10% giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giá gói thầu nhưng trên 50 tỷ đồng.

Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này thì người có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

Ngoài ra, đối với các gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm thì có thể áp dụng hình thức tham gia thực hiện của cộng đồng

Trên đây là bài viết luật sư tư vấn các hình thức đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013. Hy vọng sẽ mang đến những thông tin hữu ích cho quý bạn đọc, đối tác, khách hàng./.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Trong bài viết trước, luật sư tư vấn đã chia sẻ nội dung về phạm vi áp dụng đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu 2013. Bên cạnh việc quy định khác nhau về phạm vi áp dụng đấu thầu thì Luật, Nghị định và Thông tư về đấu thầu còn quy định về hình thức đấu thầu.

Trong quá trình luật sư tư vấn, chúng tôi có trao đổi với khách hàng để phân biệt rõ: Nếu như theo Điều 215 Luật thương mại 2005 thì có hai hình thức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đó là đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế thì trong Luật đấu thầu còn quy định thêm 06 hình thức đấu thầu khác bao gồm:

– Chỉ định thầu;

– Chào hàng cạnh tranh;

– Mua sắm trực tiếp;

– Tự thực hiện;

– Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt;

– Tham gia thực hiện của cộng đồng.

Những hình thức này được quy định từ Điều 22 đến Điều 27 Luật đấu thầu. Tuy nhiên, trong bài viết này, để phân tích một cách cô động, súc tích cho người đọc, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ trước 2 hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế.

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế

Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì Luật đấu thầu năm 2013 quy định nhiều hình thức đấu thầu hơn so với Luật thương mại 2005.Vậy nguyên nhân do đâu? Theo luật sư tư vấn, nguyên nhân do sự khác nhau về phạm vi áp dụng của các dự án đấu thầu nên Luật đấu thầu đã phải quy định thêm nhiều các hình thức đấu thầu khác nhau để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn Việt Nam đang mở cửa hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

Thế thì, hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế được Luật đấu thầu quy định như thế nào?

Điều 20 Luật đấu thầu quy định: “Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự. Đấu thầu rộng rãi được áp dụng cho các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điều 21, 22, 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này”.

Như vậy, nếu phân tích Điều 20 Luật đấu thầu thì chúng ta sẽ hiểu rằng: Luật đấu thầu thừa nhận đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không giới hạn số lượng nhà thầu tham gia, chỉ có “một người mua và nhiều người bán”. Với hình thức đấu thầu này thì bên mời thầu (người mua) sẽ dễ dàng lựa chọn được nhà thầu tốt nhất với giá cả hợp lý nhất trong phiên đấu thầu có nhiều nhà thầu tham dự.

Tuy nhiên, theo luật sư tư vấn thì hình thức này cũng đem lại một số khó khăn cho bên mời thầu như: phải quản lý hồ sơ với số lượng lớn, chi phí cho hoạt động đấu thầu lớn, thời gian để hoàn thành công tác tổ chức đấu thầu dài và có thể xảy ra trường hợp nhà thầu liên kết để đẩy giá trúng thầu.

Để các dự án kinh tế sử dụng vốn nhà nước đạt hiệu quả cao, tiết kiệm thì Luật đấu thầu chỉ cho phép các gói thầu, dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này mà không thuộc trường hợp quy định tại các điều từ Điều 21 đến Điều 27 của luật này mới được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi (chịu sự điều chỉnh về ý chí của nhà nước).

Bên cạnh đó, đối với các gói thầu lớn, đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật cao hoặc mang tính đặc thù, chuyên ngành thì việc lựa chọn nhà thầu là rất quan trọng.Thông thường các gói thầu liên quan đến sử dụng vốn nhà nước đều là các gói thầu lớn với mục đích xây dựng các công trình phục vụ cho cộng đồng nên yêu cầu bảo đảm kỹ thuật là tiêu chí quan trọng nhất. Bởi lẽ trên thực tế không phải nhà thầu nào cũng đáp ứng được các yêu cầu mà bên mời thầu đưa ra cho gói thầu. Do vậy, để bảo đảm được chất lượng của gói thầu mà không tốn thời gian, chi phí tổ chức thì Điều 21 Luật đấu tiên 2013 quy định: “Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu”. Với quy định này thì những dự án sử dụng vốn nhà nước đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ một số nhà thầu đáp ứng được yêu cầu về mặt kỹ thuật của gói thầu thì được áp dụng đấu thầu hạn chế.

Trên đây là một số thông tin cơ bản luật sư tư vấn cung cấp đến quý bạn đọc. Bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ chia sẻ nội dung liên quan đến hình thức đấu thầu khác theo Luật đấu thầu 2013./.

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Bài viết liên quan:

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

 

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thị trường của thế giới, do đó, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên là một hoạt động cần thiết nhằm đáp ứng, giải quyết được những vấn đề cấp bách đặt ra. Trong quá trình tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân, Chúng tôi từng tư vấn cho các hoạt động ở lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ… Trong đó, có nhiều trường hợp, các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng nguồn vốn Nhà nước đã yêu cầu luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên ở lĩnh vực hoạt động đấu thầu. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ đến Quý bạn đọc, đối tác, khách hàng về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên về phạm vi áp dụng của hoạt động đấu thầu

Theo Khoản 12 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 quy định: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Như vậy, trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên, chúng tôi cũng đã phân tích cho khách hàng hiểu rõ vấn đề, về thực chất thì quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước là một quá trình mua sắm, xây dựng công trình, quá trình chi tiêu, sử dụng vốn Nhà nước. Luật sư tư vấn cũng nêu rõ, về bản chất thì hoạt động đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu 2013 thực chất là hoạt động đấu thầu mang bản chất tư nhưng tính chất công. Đấu thầu trong Luật đấu thầu 2013 sử dụng nguồn vốn Nhà nước để lựa chọn một nhà thầu cho Nhà nước.

Xuất phát từ vai trò là công cụ pháp lý để quản lý nhà nước đối với việc đấu thầu các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, sử dụng vốn nhà nước trong mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ tư vấn và xây lắp… Nên theo luật sư tư vấn thì pháp luật đã quy định tại Khoản 1 Điều 1 Luật đấu thầu 2013 các dự án phát triển sử dụng vốn Nhà nước của cơ quan Nhà nước, Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; Dự án đầu tư phát triển có sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; Các dự án liên quan đến hoạt động chi tiêu, mua sắm của công, các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án; các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất; các dự án đầu tư trong lĩnh vực dầu khí (trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo quy định của pháp luật về dầu khí) thì phải sử dụng Luật đấu thầu để điều chỉnh. Bởi theo luật sư tư vấn một lý do cơ bản là vốn của các dự án này đều được lấy từ nguồn vốn của Nhà nước để chi cho các dự án đầu tư có tính chất công, có nghĩa là mang tính cộng đồng, phục vụ cho lợi ích cho một tập thể trong xã hội hoặc liên quan đến chi tiêu mua sắm của bộ máy Nhà nước.

Trong quá trình luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên cho các tổ chức, cá nhân thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, chúng tôi cũng nhấn mạnh việc thực tế cho thấy từ việc sử dụng vốn của nhà nước nên không ít trường hợp các cá nhân, người được giao nhiệm vụ thực hiện các dự án này đã gian lận để tham ô chiếm đoạt tài sản của nhà nước, gây thâm hụt và lãng phí ngân sách của nhà nước. Do vậy để tránh thất thoát tài sản của nhà nước, pháp luật đã quy định mọi dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước đều phải thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu. Tức các chủ thể trong đấu thầu đều phải chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước mà không được tự do thỏa thuận.    

Theo Khoản 2 Điều 2 Luật đấu thầu quy định: “Tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này được chọn áp dụng quy định của Luật này. Trường hợp chọn áp dụng thì tổ chức, cá nhân phải tuân thủ các quy định có liên quan của Luật này, bảo đảm công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Nói như vậy, đồng nghĩa là, theo quy định này thì các tổ chức, cá nhân có hoạt động đấu thầu không thuộc quy định này thì được chọn áp dụng quy định của Luật đấu thầu và phải tuân thủ theo quy định của Luật này. Như vậy có thể thấy phạm vi áp dụng của Luật đấu thầu rộng hơn các quy định về đấu thầu được quy định trong Luật khác.

Bên cạnh các phạm vi điều chỉnh thì các hoạt động đấu thầu liên quan đến sử dụng nguồn vốn Nhà nước, luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên yêu cầu phải tuân thủ các trình tự nghiêm ngặt theo quy định vì Luật đấu thầu không có tính mềm dẻo, chịu sự áp đặt ý chí của Nhà nước. Ngoài ra, Luật đấu thầu còn điều chỉnh cả các hoạt động đấu thầu không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật này mà chọn Luật này để điều chỉnh. Trừ trường hợp đối với việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam với nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đó. Trường hợp điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

Luật sư tư vấn pháp lý thường xuyên của Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt với kinh nghiệm trong các lĩnh vực doanh nghiệp, đầu tư, bất động sản, tư vấn nội bộ,… đã chia sẻ về phạm vi áp dụng hoạt động đấu thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước. Những bài viết tiếp theo, luật sư tư vấn sẽ chia sẻ đến quý đọc giả, đối tác, khách hàng  về các hình thức, phương thức trong hoạt động đấu thầu. Hy vọng rằng những thông tin chúng tôi cung cấp trong lĩnh vực hoạt động đấu thầu sẽ mang đến những kiến thức hữu ích cho quý bạn đọc.

Theo Công ty Luật TNHH Giải Pháp Việt

Địa chỉ: 90B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp. HCM.

Hotline: 0902 868 117 – 0909 868 117

Emailcontact@lawsolutions.com.vn

Websitehttp://lawsolutions.com.vn/ 

Bài viết liên quan 

Luật sư tư vấn hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế